GẶP MẶT CÁC BLOGGER VŨNG TÀU
chauphanbach | 18 May, 2012 20:13
Đi Hải hậu vui chơi cùng các blogger Hà Nội và Kim Liên về được hai ngày thì lại đi cùng các bạn đồng nghiệp vào Sài Gòn, Vũng Tàu công tác.
Ngày 16/5 bay vào Sài Gòn lúc 19h, đến ngủ qua đêm ở Nhà khách Người có công. Sáng 17 đến làm việc với Công ty Portcoast. Ăn trưa với các đồng nghiệp Potrtcoast xong là lên đường đi ô tô xuống Vũng Tàu. 16h đến làm việc với Cảng vụ Vũng Tàu.
18h đi tìm chố ngủ qua đến ở Hotel Mỹ Lệ. Gọi điện cho blogger Vũ Thanh Hoa hẹn tối đến Mỹ Lệ đế gừi tặng nữ sĩ ba tập Chuyện đời của Paustovsky.
Đi ăn tối về đến khách sạn đã 21h.
Ngối trong sân Hotel đợi khoảng 20p thì Thanh Hoa đến. Hai anh em vào hàng giải khát trên tầng hai bên bể bơi của hotel ngồi uống nước.
Thanh Hoa đang gọi điện cho hai blogger Nguyễn Đức Đát và Lưu Minh Phương
Thanh Hoa gọi điện thoại mời các blogger Nguyễn Đức Đát và Lưu Minh Phương cùng đến. Hai ông bạn đang ở nhà, và vội phóng xe máy đến. Khoảng 22h thì bác Đát đến và 20 phút sau đó Lưu Minh Phương đến.
Bốn anh em ngồi hàn huyên một lúc thì Thanh Hoa xin phép về trước để mấy đứa con ở nhà một mình không an tâm.
23h ba anh em cũng chia tay để nghỉ ngơi lấy sức cho ngày làm việc hôm sau.

Từ phải sang: Nguyễn Đức Đát, Vũ Thanh Hoa, Phan Bạch Châu 
Từ trái sang: Lưu Minh Phương, Phan Bạch Châu, Vũ Thanh Hoa & Nguyễn Đức Đát
MỘT CHUYẾN OFFLINE VUI VẺ CỦA "HÀ NỘI XUÂN"
chauphanbach | 15 May, 2012 14:24
Vui sao một chuyến “of-lai” [offline]
Sóng vờn, gió lộng, đẹp thay tình người
Gặp nhau môi nở nụ cười
Ngày vui bỗng thấy cuộc đời trẻ ra
“Hà Nội Xuân” rộn tiếng ca
Bốn phương bỗng hoá một nhà thân thương.
*
Sau hai ngày cùng “Hà Nội Xuân” đến với biển Hải Hậu, về HN lại tất bật với công việc, chuẩn bị ngày mai 16/5 bay vào Sài Gòn, Vũng Tàu, Cần Thơ công tác. Thấy các bạn đã đưa bài và ảnh lên blog, cũng tranh thủ đưa lên đây vài tấm ảnh góp vui. Hẹn gặp nhau lần sau sẽ tặng đĩa ảnh và đĩa video ghi lại chuyến đi này.
Ghé thăm thầy Chấn, thày giáo dạy toán của tôi năm lớp 7 niên khóa 1955-1956 ở trường Hải Hậu

Thăm trường cũ, nơi tôi học lớp 7 niên khóa 1956-1957. Tặng sách cho thư viện trường và cô Lan, hiệu trưởng hiện nay của trường

Bữa tối thịnh soạn do "đầu bếp" Tuấn Phong trổ tài

Cô hàng cá Thanh Thuỷ
Thanh Thủy & Bạch Chấu
Bác sĩ Kim Liên đang "khám thai"

Nhiếp ảnh gia cần mãn tác nghiệp trên bãi biển
Chào Thịnh Long

Tôi đặt tên cho bức ảnh này là "RỪNG XƯA ĐÃ KHÉP". Còn bạn?
TRONG ĐÊM KHUYA - Paustovsky K.
chauphanbach | 10 May, 2012 05:38
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
>> 19a. Thời gian chậm trôi
>> 19b. Thời gian chậm trôi (Tiếp theo)
>> 20. "Vĩnh biệt, Odessa của tôi, Karantin vinh quang!"
>> 21a. Bão cấp mười một
>> 21b. Bão cấp mười một (tiếp theo)
>> 22. Akropol Tavritchesky
>> 23. Trong đêm khuya
TRONG ĐÊM KHUYA
Từ Sevastopol con tàu “Pestel” nhổ neo vào một buổi sáng ẩm thấp và ấm áp.
Nước biển trong suốt màu xám liếm láp hai bên mạn loang lổ của con tàu, cố rửa sạch trên đó những vết muối đã khô cứng.
Nhưng việc đó chẳng mang lại kết quả gì: “Pestel” chẳng mấy thua kém “Dimitria” về mức độ han gỉ và chật chội.
Tôi bước đến đuôi tàu. Những trục thép cần lái kêu ken két vì phải cố sức. Mỗi vòng quay của bánh lái tạo ra tiếng động rào rào của bọt nước ở đuôi tàu, lan ra một vùng rộng, và cột buồm, như cách nói của các thủy thủ, bắt đầu “chao đảo” khi sang phía này, lúc sang phía kia.
Ánh sáng màu tro rơi xuống thành phố xuyên qua những đám mây. Trong ánh sáng dìu dịu này cảm thấy mặt trời đang ở rất gần. Thậm chí đôi lúc tôi có cảm giác như mặt mình ấm lên do những tia nắng không nhìn thấy.
Trong cái ngày tháng giêng này toàn thân tôi cảm nhận được sự dịu dàng của phương nam, cái mềm mại của bầu không khí, cái ẩm ướt dễ chịu của nó.
Sevastopol! Tôi đã từng đến đây từ lúc còn bé, sau này trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và bây giờ đây, trong thời kỳ đói kém và hoang tàn. Mỗi lần như vậy Sevastopol đều hiển hiện trước mắt tôi hoàn toàn mới, không giống như lần trước.
Tôi đoán xem một thời gian nữa không lâu sau tôi sẽ nhìn thấy Sevastopol như thế nào. Tôi tin rằng tôi sẽ thấy. Và thực sự tôi đã đến đó nhiều lần, sống ở đó và yêu quí nó như yêu quê hương thứ hai của mình. Gắn liền với nó là nhiều hồi ức, nhiều nỗi buồn và niềm vui.
Nếu như không có Sevastopol thì chưa chắc tôi đã nhìn thấy trong tưởng tượng một cách tinh tế và không nhầm lẫn những thành phố xanh, nhưng hoàn toàn có thật trên thế giới, những thành phố như Zurbagan náo nhiệt và Lise dập dìu những toa xe điện.
Tôi bị sửng sốt bởi một điều là ngay cả sự tiếp xúc nhẹ của bàn tay con người với mảnh đất Sevastopol màu mỡ cũng tạo ra được những thứ khá hấp dẫn: những ngõ hẻm cầu kỳ, những bậc thang bằng đá khuất trong hàng cây hoàng đậu, những chỗ rẽ thuận tiện của các con đường, đốm phản xạ của tia nắng đùa vui hiếu động trên những tấm kính của các tòa nhà, những ban công, nơi mấy con thằn lằn xanh bé nhỏ đang sưởi nắng, quang cảnh tranh tối tranh sáng của các hiệu cà phê, những tấm rèm cửa của chúng trông giống như mấy bức tranh trẻ con phết bằng màu nước dày đặc.
Đối với tôi Sevastopol chưa bao giờ là một thành phố hoàn toàn thực và bình thường.
Đôi khi tôi có cảm giác nó chật chội, xám xịt và mất đi những dấu hiệu ngoạn mục. Nhưng ngay lúc đó hình ảnh bao la của đường chân trời phía biển hoặc mùi thịt chim nướng lại đưa tôi về với thực tại – về với Sevastopol, bừa bộn, như đống đá cẩm thạch đã ngả vàng vì thời gian trên những dải bờ biển của các vịnh màu chàm, về với tiếng phần phật của những lá cờ, với những tia sáng lân tinh của sóng biển bóng loáng, về với mùi thơm của hoa hồng và mùi cà chua, về với ngọn gió của biển Egei từ xa ghé đến thăm Sevastopl, mang theo những đám mây hồng trên cao.
Từ trên đuôi tàu tôi nhìn mãi về phía Sevastopol. Sau đó “Pestel” từ từ vòng quanh tháp đèn biển Khersonessky, và phía trước phía mạn tàu bên trái hiện lên bức tường của những ngọn núi Krime màu tím nhạt.
Trước khi rời Sevastopol tôi mất ngủ cả đêm vì lạnh và vì hồi hộp. Bởi vậy lúc này đây mắt tôi díp lại. Tôi tìm cho mình một chỗ tối yên tĩnh dưới gầm cầu thang trong gian hành khách, nằm xuống sàn và ngủ thiếp đi ngay.
Tôi ngủ khá lâu. Khi tôi tỉnh dậy, dưới gầm cầu thang đã tối om. Trong gian hành khách có một bóng điện chiếu sáng lờ mờ và có mùi bắp cải chua.
Bụng tôi co thắt. Thèm ăn không chịu được, và tôi, trong sự kinh hoàng vì sự nghèo khốn cùng cực hiện tại của mình, đã đặt mua một đĩa dưa bắp cải nấu nhừ bằng những đồng tiền cuối cùng còn lại của mình. Tôi ăn đĩa bắp cải với mẩu bánh mì khô Sevastopol duy nhất.
Sau khi tỉnh ngủ tôi thấy đã gần tối, nhưng hình như mặt trời còn chưa lặn. Các sườn núi Krime phủ một màu đỏ sẫm chậm chạp trôi qua bên ngoài cửa sổ khoang hành khách. Trên boong tàu một cơn gió khó chịu thổi đến từ hướng đông. Nước biển màu bùn vỗ ngược mũi con tàu “Pestel”. Những sườn núi Iaila phủ nàu trắng bạc của rừng sồi khô lá, lúc chỗ này lúc chỗ kia còn leo lét ánh sáng cuối cùng.
Xa xa ở phía trước đèn hải đăng cảng Ialta nhấp nháy con mắt đỏ. Và không có một ánh lửa nào khác trên suốt chiều dài bờ biển. Toàn bộ vùng Krime đã gị bỏ rơi, không người ở và bị những cơn gió mùa đông tràn qua. Nó lạnh cóng vì băng giá.
Tôi nhìn rất lâu vào bờ, cố tìm cho được dù chỉ một chút ánh sáng le lói nhỏ nhoi, dù chỉ một ngọn lửa nến, như một minh chứng rằng có ai đó vẫn còn sống trong vùng đất hoang vu này. Nhưng, ngoài bóng tối chập chờn sau những ngọn núi nhấp nhô tôi không thấy gì khác khắp bốn chung quanh.
“Pestel” đến Ialta vào lúc chín giờ tối. Thành phố im lìm và tối om. Từ vùng ngoại ô vang đến những tiếng súng trường lẻ tẻ.
Trên đê chắn sóng không có người. Các vũng nước lăn tăn dưới gió, mấy thùng vỡ đựng bắp cải chua nằm lăn lóc, mấy người lính gác chân quấn xà cạp co ro vì rét đang đi lại, súng trường khoác trên vai.
Người ta thông báo cho hành khách là “Pestel” sẽ neo đậu lại ở Ialta cho đến sáng, bởi lẽ đi ban đêm không an toàn vì có thủy lôi. Hành khách nào muốn thì có thể xuống đê chắn sóng để thư giãn đôi chân, nhưng đi vào trong phố rất nguy hiểm. Không có ánh sáng, hơn nữa ngay tại ngã tư đầu tiên bọn cướp có thể chặn lại, lột sạch quần áo và thậm chí là giết chết.
- Mà không phải chỉ bọn cướp, - người lính gác đứng cạnh cầu thang nói thêm, - cả bọn bạch vệ cũng bắn. Chúng không kịp chạy, hiện giờ đang trốn trên núi, trong các hang đá. Phải dùng súng phun lữa để thiêu cháy chúng trong các hang này.
Thuyền trưởng ra lệnh đưa tàu ra xa bến và neo đậu cách bờ mấy mét để không ai có thể lén lút xâm nhập lên tàu.
Tôi đã kịp leo theo chiếc cầu thang lung lay để xuống dưới đê chắn sóng và đi bộ đến cổng vào thành phố. Tới cạnh cổng tôi dừng lại. Trên cổng treo chiếc đèn dầu hỏa “sóc bay”, nhấp nháy tỏa sáng. Ngồi trên một chiếc thùng gỗ dưới đèn là một ông già đội mũ cát két thủy thủ, kẹp một khẩu súng trường giữa hai đùi.
Ngoài cổng là bóng tối. Thỉnh thoảng từ trong bóng tối có tiếng lá khô xào xạc.
Tôi đi mấy bước vào trong bóng tối này và dừng lại. Người gác cổng dửng dưng nhìn tôi và quay mặt đi. Bác cứ mặc kệ, người ta có giết tôi hay không cũng thế thôi. Bác chỉ mong tôi chẳng hỏi bác câu nào và không quấy rầy bác suy nghĩ về việc nhà của bác. Bác đã nhìn thấy quá nhiều người bị giết rồi, và họ thậm chí không còn khêu gợi sự tò mò của bác nữa.
Tôi quay nhìn phía sau. Còn có thể quay trở lại tàu, nhưng một sự thôi thúc khó hiểu xâm chiếm người tôi. Dường như tôi đang đứng bên bờ vực thẳm.
Tôi nhìn những ngọn đèn mờ treo trên boong con tàu “Pestel” và bỗng hiểu rằng tôi không thể cưỡng lại sự quyến rũ của bóng tối, rằng nó đang lôi kéo tôi, rằng việc quay trở lại qua dải bóng tối dày đặc này để đến con đê chắn sóng có ánh đèn chiếu sáng lờ mờ còn khủng khiếp hơn là hòa mình trong bóng tối này và thậm chí là hy sinh trong đó.
Tôi hiểu rằng tôi đang thử thách số phận mình, rằng tôi đang làm một việc dại dột là đi ban đêm vào thành phố một cách khinh suất. Nhưng bóng đêm đã độc chiếm tôi. Trái tim đập đều đều, và tôi khẳng định với mình rằng tôi không thể quay xuống tàu khi chưa biết được cái gì ẩn náu trong màn đêm đầy e ngại này.
Thường vẫn có hiện tượng là người ta không thể nhớ một cái tên hoặc cái họ nào đấy, và khi chưa nhớ được anh ta trở nên bị ám ảnh, như người mất trí. Anh ta chỉ suy nghĩ về việc giải đoán điều bí mật của mình, không nghe gì, không nói năng gì và không nhìn thấy gì chung quanh. Có lẽ lúc đó tôi cũng đang ở trong trạng thái như vậy. Đêm tối đang giấu diếm một điều bí mật nào đó, và tôi không thể sống khi chưa biết được nó.
Bóng tối đang cuốn hút tôi, như sa mạc Sakhara cuốn hút những người lính thuộc địa Pháp. Babel đã kể cho tôi nghe về việc này. Những người lính đi vào trong sa mạc, đào ngũ và không bao giờ quay trở lại.
Tôi không thấy sợ. Ngược lại, tôi bị xâm chiếm bởi ước muốn sẽ có điều gì đó bất ngờ xảy ra ngay lúc này và quyết định số phận của tôi. Cái đêm hôm đó đối với tôi dường như là giới hạn cuối cùng của cuộc đời của tôi, sau đó phải là cái chết hoặc ánh sáng chói lòa.
Giờ đây tôi đang nghĩ là cái trạng thái của tôi ở Ialta lúc đó là hậu quả của nạn đói ở Sevastopol. Nhưng lúc đó tôi sống bên trong trạng thái này và không thể đánh giá nó từ bên ngoài.
Tôi đã quyết định một cách bình tĩnh và lạnh lùng rằng phải hành động như thế nào trong màn đêm này. Trước hết – di chuyển hoàn toàn không có tiếng động, kín đáo, nép sát tường để mình không bị lộ ra dù chỉ là do hơi thở nhẹ. Bóng tối bao trùm quanh tôi, và chỉ có hai thứ đe dọa mang đến cho tôi cái chết – tiếng động phản phúc, dù là tiếng khua của đế giày, hơi thở, tiếng ho, tiếng rít trong phế quản, tiếng loạt soạt của chiếc lá khô dưới chân, hoặc cuối cùng là sự va chạm trực tiếp với ai đó trong bóng tối.
Nhưng, sau khi vượt qua cây cầu sang con suối Ytchan-Su, tôi hiểu rằng không phải tất cả những sự thận trọng này sẽ cứu tôi thoát khỏi hiểm họa, mà là cái cảm giác không hề nhầm lẫn về việc đang đến gần của một người cũng đang ẩn trốn như tôi. Mỗi một người không nhìn thấy này đều là kẻ thù. Nhờ một giác quan thứ sáu hay thứ mười hai nào đấy chưa được đặt tên, nhưng nó tồn tại trong tôi, - tôi chẳng biết được – mà tôi đã xác định rằng cách tôi mấy bước có một người đàn ông đang đứng và lắng tai nghe. Tôi cũng cảm nhận được, giống như người đàn ông đó, cái cò súng âm ấm vì có ngón tay đang tì vào, mặc dù trong tay tôi không có súng.
Lại còn một lợi thế nữa – mà là một lợi thế lớn – đó là những kẻ thù đang náu kín không để tôi thấy nhờ cái màn đêm tối mịt này đã không biết cái qui luật chủ yếu để bảo vệ cuộc sống trong một đêm như thế này – đó là tuyệt đối không gây ra tiếng động. Bởi vậy chúng thường bộc lộ mình, và tôi đã kịp thời tránh chúng.
Và cuối cùng tôi tin rằng con người phát ra tiếng động nhiều hơn nhiều so với ta nghĩ. Thậm chí cái quay đầu, mà đặc biệt là quay người đôi khi cũng nghe thấy khá rõ.
Lại còn một mối nguy hiểm nữa. Đó là quẹt diêm. Thời đó chưa có đèn pin, nhưng que diêm có thể quẹt lên bất cứ lúc nào và làm lộ mình cho kẻ thù giết chết bất ngờ.
Tôi đi đâu đây? Tôi không biết được điều đó cho đến khi đi vào một ngõ cụt.
Tôi đã đi khá lâu, đôi khi bước xuống mặt đường nếu tôi cảm thấy vỉa hè có cái gì đó không an toàn. Thỉnh thoảng lại có cơn gió, khua rì rào trong các bụi cây trắc bách diệp, và lúc đó tôi đi bạo dạn hơn.
Tôi tránh các lề đường. Ở đó thường có các giếng thoát nước mưa.
Tôi đi vào một ngõ cụt lúc nào – tôi chẳng nhớ nữa. Có lẽ lúc đó đã rất khuya. Tôi đi men theo một bức tường đá. Bên phải nối liền với nó cũng là một bức tường đá tương tự như thế. Tôi đưa tay lên sờ soạng bức tường, nhưng không chỗ nào có thể sờ đến đỉnh tường. Bức tường khá cao, và không thể nào trèo qua nó được.
Bên trái cũng có một bức tường chạy dài. Nó bị gián đoạn bằng một cánh cổng. Bên cạnh cánh cổng trong tường có khe cửa hẹp, cạnh đó tôi sờ thấy một tấm biển.
Bức tường thứ ba – bức tường có cái cửa hẹp và tấm biển, - có vẻ thấp, chỉ đến ngang vai tôi. Sau tường hình như có một khu vườn rậm rạp, dù không nghe thấy tiếng lá xào xạc.
Tôi móc bao diêm ra và quẹt ba que diêm cùng một lúc để ánh lửa diêm có thể sáng hơn bình thường. Tôi quyết định đọc tấm biển.
Ánh lửa màu vàng soi sáng tấm biển, và tôi chỉ kịp đọc được bốn từ: “Nhà của Anton Pavlovich…”.
Gió thổi tắt que diêm. Ngay lập tức ở đâu đó sau đại lộ Autsky vang lên một tiếng súng. Viên đạn rít thấp trên bờ rào và làm gãy một nhánh cây kèm theo tiếng rơi nhẹ.
Viên đạn thứ hai rít lên trên cao hơn và bay vào màn đêm, nơi biển vẫn rì rào.
Tôi nằm ép người dưới chân cánh cửa. Tôi quên ngay hết mọi thứ: trạng thái khiếp đảm của mình, giống như một căn bệnh thần kinh, toàn bộ đoạn đường căng thẳng, như một sợi cáp, qua thành phố đầy hiểm họa rập rình để đến đây, đến ngôi nhà của Tchekhov.
Tôi đã đến ngôi nhà này lúc còn là một cậu bé, vào năm 1906, năm thứ hai sau khi Tchekhov qua đời, mười sáu năm về trước.
Tôi đã không hiểu được, và cả đến bây giờ tôi cũng không hiểu được vì sao tôi đã đến Autka, đến đúng ngôi nhà này. Tôi đã không hiểu nỗi điều đó, nhưng tất nhiên tôi có cảm giác rằng tôi đã đến ngôi nhà đó một cách có ý thức, rằng tôi tìm nó, rằng trong thâm tâm tôi có một công việc quan trọng nào đó và chính nó đã đưa tôi đến đó.
Vậy đó là công việc gì?
Tôi bỗng cảm thấy buồn day dứt và đau xót vì tất cả những mất mát đã bám theo tôi trong cuộc đời. Tôi nghĩ đến mẹ và chị Galia, nghĩ đến tình yêu đôi lứa nóng bỏng một thời xa xôi ở đâu đó nhưng tôi không đáng được nhận, nghĩ đến Lena, nghĩ đến cái nhìn chăm chú và mệt mỏi của Tchekhov qua chiếc kính cặp mũi. Lúc đó tôi đang úp mặt vào bờ tường đá, cố sức để kìm nén, nhưng rồi tôi vẫn khóc.
Tôi ước gì cánh cửa kêu ken két, mở toang, Tchekhov bước ra và hỏi tôi có chuyện gì xảy ra vậy.
Tôi ngẩng đầu lên. Những ngọn núi lấp loáng trắng trong đêm tối nhờ ánh sáng lân tinh bất động. Tôi đoán rằng trên núi có tuyết rơi, tuyết núi khô, ở dạng tinh thể, loại tuyết phát ra tiếng kêu lạo xạo dưới chân như đi trên sỏi.
Và một cảm giác bất ngờ về một niềm hạnh phúc tất yếu và đang ở rất gần xâm chiếm người tôi. Vì sao vậy – tôi không biết. Có thể đó là do cái ánh sáng vô cùng tinh khiết này của tuyết, giống như ánh lấp lánh xa xôi của một đất nước tuyệt vời, do cảm giác không nói được ra lời và bị dồn nén lại rất lâu về bổn phận của người con trước nước Nga, trước Tchekhov. Ông đã yêu đất nước mình theo nhiều cách khác nhau, nhưng ông đã yêu nó như yêu một tình nhân e thẹn mà vì đất nước đó ông đã viết ra truyện ngắn cuối cùng. Ông tin chắc rằng đất nước đó nhất định sẽ đi đến sự công bằng, đến cái đẹp và hạnh phúc.
Tôi tin rằng nó sẽ đến, cái hạnh phúc đó, với nước tôi, với vùng đất Krime băng giá và đói nghèo, và cuối cùng là với tôi.
Cái cảm giác này rất mãnh liệt và hoan hỉ, như ánh nhìn đột ngột của người tình. Nó sưởi ấm trái tim tôi và làm khô những giọt lệ của sự mệt nhọc và cô đơn.
Tôi quay trở về không cần phải lén lút. Người ta bắn về phía tôi hai lần. Cuối cùng trong bóng tối mịt mùng tôi lại đi ngang qua chỗ ông già ngồi cạnh cổng cảng với khẩu súng trường. Ông cũng dửng dưng nhìn tôi như mấy giờ trước đây.
Sau đó tôi ngồi rất lâu trên đê chắn sóng, tựa lưng vào khối bê tông hình hộp (đê chắn sóng Ialta được xây dựng từ những khối này), tôi nhìn màn đêm chuyển sang màu xám, và đợi cho đến khi “Pestel” lại được kéo vào bến. Lúc đó tôi theo cầu thang leo lên khoang hành khách và chìm vào giấc ngủ. Và thậm chí trong giấc mơ tôi cũng sẽ chờ đợi, như đã chờ đợi trong thực tế những điều bất ngờ của hạnh phúc và những sự đổi thay.
Tarusa trên sông Oka. Mùa thu 1958
AKROPOL TAVRITCHESKY - Paustovsky K.
chauphanbach | 07 May, 2012 20:42
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
>> 19a. Thời gian chậm trôi
>> 19b. Thời gian chậm trôi (Tiếp theo)
>> 20. "Vĩnh biệt, Odessa của tôi, Karantin vinh quang!"
>> 21a. Bão cấp mười một
>> 21b. Bão cấp mười một (tiếp theo)
>> 22. Akropol Tavritchesky
AKROPOL TAVRITCHESKY
Khi vào đến vịnh Bắc, một chiếc xuồng máy chở các lính thủy có vũ trang chạy đến cập mạn con tàu “Dimitria”. Họ leo lên boong tàu, mở khoang tàu và hô to xuống bên dưới:
- Sẵn sàng nào, các tướng chây lười! Bước ra từng người một! Khẩn trương lên! Chỉ huy ra sau cùng!
Các tướng “chây lười” lên boong tàu. Người ta khám xét, thu vũ khí, bắt trói và đưa đi. Mọi người vui vẻ nói với vị chính ủy cảng Nikolaevsky:
- Chắc đích thân trưởng ban quân quản của cảng sẽ đến đón anh.
Nhưng tất nhiên trưởng ban quân quản không đến, và vị chính ủy chỉ nở nụ cười sau bộ ria mép ám khói thuốc.
Con tàu “Dimitria” cập vào bến hành khách ở vịnh Nam. Người ta thông báo cho hành khách biết là “Dimitria” sẽ không đi tiếp. Nước rò vào trong tàu nhiều hơn, vết toạc trên thành tàu bung ra, máy tàu hầu như đã bị hỏng ở đế đặt máy, và vì vậy con tàu phải đưa thẳng đến nghĩa địa tàu đắm.
Tôi thấy tiếc cho “Dimitria”, đặc biệt là vào lúc một chiếc tàu kéo đến cập cạnh nó và “Dimitrria” vừa rúc lên hồi còi vĩnh biệt vừa đi theo sau chiếc tàu kéo đến bãi thải.
Dù sao thì con tàu hào hiệp và già nua này cũng đã thực hiện một nổ lực cuối cùng, vượt qua trận bão biển băng giá và cứu sống chúng tôi.
Tôi lên bờ. Những bạn đồng hành của tôi biến đi đâu hết không còn thấy ai. Tôi trơ trọi một mình.
Đi đâu bây giờ? Và tất nhiên cuối cùng tôi đã đi ra bến tàu Graf để nhìn về phía Sevastopol, thành phố chìm trong màn sương cổ kính ố vàng, và tôi suy tính sẽ làm gì tiếp đây. Tôi không có ai quen ở Sevastopol, nếu không kể đến cô gái-nữ thi sĩ. Nhưng tôi quên mất địa chỉ của cô và thậm chí quên cả tên cô.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đá, sưởi ấm trong ánh nắng nhàn nhạt, và ngủ mơ màng do bầu không khí tĩnh lặng và sự an tâm xuất hiện sau chuyến đi biển bão tố vừa qua.
Có lẽ tôi đã ngồi khá lâu cho đến khi màn sương ố vàng đã chuyển sang màu đỏ thẫm và một cơn gió lạnh thổi vào từ phía biển, nơi một phao tiêu phát tín hiệu âm thanh ở mũi Konstantinov đang dập dềnh buông tiếng.
Tôi quyết định đi đến nơi có thể cư trú duy nhất của tôi, một cộng tác viên của tờ báo “Người thủy thủ” – đó là Hội thủy thủ Sevastopol.
Vị chủ tịch hội – một thủy thủ già có cặp mắt Ukraine đượm buồn – nghe tôi trình bày, sau đó nhìn tôi một hồi lâu không nói nửa lời. Tôi nghĩ có lẽ ông quên mất tôi rồi, và tôi thận trọng ho để nhắc ông.
- Tôi vẫn đang suy nghĩ về anh đấy, - vị chủ tịch nói. – Có nghĩa là không có bánh mì chứ gì? Không còn gì cả phải không? Và hơn nữa là không có một mái nhà trên đầu chứ gì? Thật xúi quẩy!
Ông lại im lặng một lúc lâu, sau đó thở dài nặng nhọc, kéo về phía mình cuốn sổ ghi đóng bằng giấy bao gói màu hung hung và bắt đầu viết khá lâu, đọc lại những cái đã viết và đặt thêm vào các dấu ngắt câu. Sau cụ Blagov thì đây là con người thứ hai thuộc loại mẫn cán với các dấu ngắt câu mà tôi gặp trong đời.
- Đây, - ông nói, - anh cầm tờ giấy này đi đến phố Sadovaia, vào trong căn nhà cũ của đô đốc Kolans. Đưa giấy này cho bà vợ góa của đô đốc. Nhưng anh đừng có làm bà ấy sợ, bởi anh là một thủy thủ trung thành của phe đỏ. Bà ấy sống ở căn nhà đầu hồi với những người còn lại của mình, còn trong căn nhà chính quay ra mặt phố chúng tôi bố trí một cái giống như là nhà trẻ. Dành cho con cái các thủy thủ. Thỉnh thoảng mới đốt lò sưởi, còn ăn uống thì chúng tôi cung cấp bằng cách gì đấy. Nói cho đúng ra thì không có cái vườn nào cả. Thế đấy, anh có thể ngủ qua đêm ở đó, nhưng chỉ từ năm giờ chiều đến tám giờ sáng, lúc không có bọn trẻ con. Chỉ có điều phải cẩn thận để ban đêm không bị chết cóng. Nếu không thì phiền toái lắm.
Ông đưa mẩu giấy thứ hai cho tôi – lệnh gửi lò bánh mì hàng hải cấp cho tôi một ổ bánh mì.
- Ăn dè sẻn nhé, - ông khuyên tôi. – Cấp cho anh là trường hợp ngoại lệ đấy. Anh còn ở Sevastopol lâu không?
- Tôi chẳng biết nữa. Tàu “Dimitria” thả chúng tôi lên bến. Đành phải ngồi đây và chờ đến khi từ Odessa có con tàu thứ hai đến.
- Con tàu “Pestel” à? – vị chủ tịch hỏi.
- Vâng, “Pestel”.
- Nhưng nếu nó không đến thì sao? - Vị chủ tịch bất ngờ hỏi.
- Sao nó lại không đến?
- Đơn giản thôi! Một cái hộp đầy lỗ thủng, cũng tựa như “Dimitria” của các anh vậy! Để đi thì cần phải đi cho đến nơi. Nhiệm vụ là như vậy!
Đó là một chân lý bất di bất dịch, và tôi không thể không đồng ý với nó.
- Pestel”, - tôi buồn bã nói, - phải khởi hành một tuần lễ sau chúng tôi.
Vị chủ tịch thờ dài.
- Nhưng mà, nói chung, - ông nói với giọng không tin tưởng lắm, - nếu bánh mì không đủ... có thể, chúng tôi sẽ cấp thêm một ít. Để suy nghĩ xem đã.
Tôi cám ơn ông và đi đến chỗ lò nướng bánh. Lúc đó đã ba giờ chiều, mà dù thế nào thì cho đến năm giờ tôi cũng không có chỗ nào để ở.
Lò nướng bánh nằm ở vuông sân thứ ba, trong một ngõ hẹp. Tại cổng vào vuông sân thứ ba có một người đàn ông đeo vũ khí đứng gác. Ông đọc mẩu giấy của tôi và cho tôi vào.
Bác thợ nướng bánh đưa cho tôi một ổ bánh mì, nhưng vừa trao tận tay bác vừa hỏi:
- Anh gói nó vào đâu được? Anh lấy gì đựng để mang đi?
- Tôi chẳng có tờ báo hay cái túi nào cả.
- Ầy ầy ầy! – bác thợ nướng bánh dài giọng trách móc. – Người ta sẽ cướp của anh ngay tại góc phố. Thế thì tôi đưa anh bánh mì làm gì? Phát ổ bánh này cho anh chẳng còn ý nghĩa gì nữa.
- Chẳng lẽ người ta giật đi à? – tôi hỏi. Bác thợ nướng bánh bực mình.
- Anh làm sao thế, từ trên mặt trăng rơi xuống à! Người ta sẽ giật và xé vụn ra ăn ngay. Họ chầu chực ở cổng suốt ngày đêm. Iurka! – bác ấy gọi to.
Từ phòng trong một cậu bé khoảng lên mười chạy ra. Cậu bé gầy nhom đến mức tưởng chừng như chỉ còn lại đôi mắt.
- Iurka, - bác thợ nướng bánh bảo cậu bé, - đưa ông khách lạ lùng cầm ổ bánh mì này ra đại lộ Mitchansky men theo lạch nước “Izhits”. Chỉ có điều phải đi cẩn thận. Bánh mì, đồng chí ạ, phải giấu dưới áo bành tô. Và đừng có nghĩ đến chuyện ăn nó ngoài phố. Đừng-đừng! Người ta nhìn thấy – lúc đó không ai cứu được anh đâu. Họ... – bác nói với vẻ quan trọng rồi nhắc lại: - Họ theo dõi không thương xót theo bất kỳ ai.
- “Họ” là ai thế? – tôi hỏi.
- Lạy chúa, cái đồng chí này, đúng là đồng chí từ trên Sao hỏa rơi xuống. Còn hỏi đó là ai à? Những người đói, tất nhiên rồi.
Cậu bé dẫn tôi đi qua lò bánh vào một ngõ hẹp giữa hai bức tường. Trên một bức tường có cánh cổng. Cậu bé mở cổng bằng một chiếc chìa khóa đồng to tướng, rồi theo một cầu thang bên ngoài bằng thép có đặt những chậu hoa hoa vân anh khô, chúng tôi lên tầng hai của một ngôi nhà cũ.
Cậu bé khéo léo dùng một chiếc đinh mở cánh cửa bằng gỗ sồi có chạm trổ hình những thanh gươm và lá cờ, rồi chúng tôi đi vào một căn hộ của ai đó.
- Chú đi im lặng nhé. Đừng làm cho người ta giật mình, - cậu bé nói. – Chỉ có điều là đừng nói chuyện với ai cả. Chỉ có thể chào hỏi nếu chú muốn.
Cậu bé đẩy cánh cửa đầu tiên. Chúng tôi bước vào một phòng khách có đặt chiếc đàn dương cầm, có mấy bức chân dung của các vị đô đốc bệ vệ với những chiếc thùng dài và một bể nuôi cá không có cá. Trong bể vỏ khoai tây đen sì đổ cao đến tận mép bể. Nó đã bốc mùi hôi thối. Đang nằm trên chiếc đi văng là một người đàn bà đứng tuổi nhỏ bé và nước da vàng bệch, trông như một con chim non.
- Người ta tán chuyện gì ngoài đó suốt ngày, - người đàn bà nói, - và lại còn tỏ vẽ lịch sự nữa chứ! Chào ông! Không ai bắt ông phải chào lại đâu!
Tôi luống cuống bước vội theo sau Iurka sang căn phòng tiếp theo, có lẽ là một phòng ăn trước đây.
Sau tấm bình phong bằng lụa của tàu nhô lên cái đầu bù xù ngái ngủ của một người đàn ông trẻ và đẹp trai. Anh ta nhìn Iurka và dứ nắm đấm đe dọa.
- Thấy người ta dễ dãi quá hả?
- Các người không phải hỏi! – Iurka nói, với giọng muốn gây gổ. – Tôi đã đi và tôi sẽ đi. Các người muốn gì nào, chúng tôi uổng công cho các người bánh mì à? Vì cái công lao như thế của các người đối với cách mạng à? Đồ hủi!
Cái đầu thụp xuống ngay. Sau đó chúng tôi đi ngang qua một nhà bếp chăng đầy mạng nhện. Đang ngồi trong đó là một cô gái trẻ dễ thương với da mặt tái mét không còn tí máu nào. Kéo chiếc váy lên, cô nhìn chằm chằm vào hai đầu gối sưng húp của mình, lấy hai bàn tay xoa lên đó và khóc.
Từ trong nhà bếp chúng tôi đi ra một khu vườn khô cằn, trèo qua một bờ rào thấp và đã có mặt ở cuối đại lộ Mitchman vắng lặng. Iurka chia tay tôi và quay trở lại.
- Kia chính là lạch nước “Izhits”, - lúc cuối cùng trước khi chia tay cậu bé nói. – Nơi an toàn nhất. Đối với phụ nữ và dân thường. Thôi, chúc chú an lành. Chỉ có điều, lạy chúa, ngoài phố chú đừng lấy bánh mì ra. Và đừng ăn.
Tôi ngồi mãi đến năm giờ chiều trên chiếc ghế đá ở đại lộ Mintchansky. Một bầu không khí tĩnh lặng như trong nghĩa địa bao trùm lên Sevastopol.
Chỉ một lần có chiếc xe ba gác đẩy tay khua lọc cọc ầm ĩ ngay bên cạnh trên mặt đường lát đá. Tôi nhìn thấy nó trong khe hở giữa các lùm cây trắc bách diệp khô.
Hai phụ nữ trẻ kéo chiếc xe ba gác. Nằm úp mặt trên chiếc xe là một người đàn ông chân không giày dép, trần trụi đến thắt lưng. Tôi không đoán ra ngay rằng anh ta đã chết.
Tôi đi sang phố Sadovaia. Đôi lúc từ trong góc sâu của các vuông sân thoang thoảng bay ra mùi xác chết. Một cây trường xuân đắng héo khô cọ ken két lên các bức tường chắn gió. Không thể nào tin được rằng trên những bức tường đá lổ chổ này lúc nào đó từng có ánh nắng ấm chiếu vào.
Thời gian lập tức kéo tôi trở lại với hai-ba năm về trước. Trong hình ảnh của Sevastopol hiu hắt và đang hấp hối tôi lại liên tưởng đến cả Kiev và Odessa của những thời kỳ có dịch sốt phát ban và nạn đói.
Khi tôi đang đi thì có một cơn gió mạnh, lạnh cắt da, có lẽ là gió mùa đông bắc thổi đến. Ngay lúc đó những tấm tôn trên các mái nhà phát ra tiếng kêu ken két dọc theo tất cả các con phố. Gió thổi bay nghiêng nghiêng những hạt tuyết, hoàn toàn không giống tuyết ở Nga của chúng tôi. Nó có màu xam xám và lập tức biến mất ngay trên mặt đường cùng với những đống lá phượng vĩ khô đã bị xéo nát vụn. Bầu trời màu xám kéo dài về phía biển khơi, dường như nó kéo theo cả chút ánh sáng cuối cùng, hơi ấm và những giọng nói trìu mến của con người.
Tôi bước đi bên cạnh những ô cửa sổ xiêu vẹo hở toang hoác trong các tầng hầm, sợ không dám nhìn vào bên trong. Ở đó có lẽ người ta chất người chết thành đống.
Nhưng phố Sadovaia nằm ở khu vực cao của thành phố, tạo cho tôi có cảm giác rằng ngay cả trong ánh sáng xám xịt của một ngày ẩm ướt con phố vẫn có vẻ ấm cúng và tĩnh lặng như thường gặp ở những con đường cụt hẻo lánh có nhiều cây cối.
Tôi tìm thấy ngôi nhà một tầng của phó đô đốc Kolans. Trên các cánh cổng có vẻ hình những chiếc mỏ neo thép, còn trong sân có dựng một cột cờ. Cột cờ bằng gỗ, nhưng không hiều vì sao người ta chưa cưa để làm củi và chưa ném vào lò sưởi.
Sâu bên trong sân có thể nhìn thấy một căn nhà đầu hồi, có dàn nho dại phủ dày.
Tôi gõ cửa. Một giọng phụ nữ trầm hỏi tôi sau cánh cửa rằng tôi cần gặp ai. Tôi trả lời. Lúc đó cánh cửa mở ra, và tôi nhìn thấy trên bậc cửa một bà già người cao, như một người lính của đội cận vệ danh dự, với mái tóc trắng trên đầu và mấy chiếc móc cời lò cầm trên tay. Bà tựa người trên một chiếc móc cời lò. Cặp mắt bà lóe lên ánh lửa.
- Vâng! – bà nói với vẻ khiêu khích. – Đây đúng rồi! Tôi là vợ góa của phó đô đốc Tsezar Platonovich Kolans. Nhưng trong số những người quen của ông ấy tôi chưa nhìn thấy anh, anh bạn trẻ ạ. Ký ức thị giác của tôi rất đặc biệt. Bởi vậy anh hãy nói xem anh cần gì, nhưng phải ngắn gọn, rõ ràng và khúc chiết.
Thay vì trả lời tôi đưa cho bà mẩu thư của chủ tịch Hội thủy thủ. Bà kẹp nó giữa hai ngón tay, huơ lên không, như để giũ sạch rác rưởi và nói sau khi quay về phía sau:
- Maria, đọc xem!
Từ trong tiền sảnh tối bước ra là một cô gái gầy còm, nhợt nhạt, như người ngoài hành tinh, với cặp mắt tròn xanh, cầm trên tay một cây nến nhà thờ nhỏ xíu. Trông cô giống như một người bị thôi miên hoặc người mộng du. Không một lần nhìn tôi, cô đọc mẩu thư, quay ra phía sau, và đến lượt cô lại gọi:
- Andre, đến đây và đưa ngài này vào vườn trẻ! Ông ấy sẽ ngủ qua đêm ở đấy.
- Ông có bánh mì không? – bà đô đốc bỗng hỏi tôi.
- Có một ít.
- Điều đó không quan trọng! – Bà đô đốc gõ mạnh chiếc móc cời lò xuống sàn. – Tôi đề nghị ông một cuộc đổi chác trung thực. Ông đưa cho chúng tôi một ít bánh mì, rồi mỗi ngày tôi sẽ đưa cho ông sữa dê. Tôi nuôi một con dê! – Lần thứ hai bà lại gõ móc cời lò xuống sàn rồi quay về phía người đàn ông trẻ tên là Andre. Anh ta đã bước vào gian tiền sảnh và khiêm nhường đứng trong chỗ tối. – Cái đó nói lên điều gì à? Trong những hoàn cảnh như thế này – hãy nhớ nhé, Andre! – chính bà hoàng hậu quá cố đã nuôi dê và tự tay bà vắt sữa. Tự tay! – bà đô đốc hét to và gõ móc cời lò xuống sàn lần thứ ba. – Ông đồng ý chứ?
- Với cái gì? – tôi hỏi. – Với việc là bà hoàng hậu...
- Không, không phải thế! – bà đô đốc gay gắt cắt ngang lời tôi. – Bà hoàng hậu quá ngu ngốc và nghiện ma túy! Đúng là một con muỗi Hessen! Vì bà ấy mà cuộc cách mạng này đã xảy ra. Tôi hỏi: ông có đồng ký đổi chác không?
- Tôi đồng ý, - tôi vội trả lời.
- Một fun bánh mì, và hết! – Bà đô đốc gõ móc cời lò xuống sàn lần cuối cùng rồi ra lệnh cho Andre: - Lấy chìa khóa và đưa người đàn ông này sang căn nhà chính.
Bà quay lại phía tôi và nói thêm:
- Nhưng chớ có làm những điều ngu xuẩn! Không hút thuốc lào, buổi tối không quấn người trong tấm thảm để tránh rận (cô Maria kêu ối lên một tiếng và phẩy tay), không uống rượu và mọi việc khả ố khác! Nếu trời còn cho tôi có sức khỏe, tôi sẽ cho từng đứa một biết tay, dù hắn có là tổng dân ủy. Có là quỉ Sa tăng hay ma vương Beelzebub. Xin tạm biệt.
Bà ta quay lưng và đi vào trong góc sâu của tiền sảnh tối om, gõ lạch cạnh chiếc móc cời lò. Cô gái nâng cây nến lên cao hơn, soi vào tôi, hét to, đánh rơi cây nến xuống sàn. Nến tắt, còn cô gái thì lao theo sau bà đô đốc và hét to:
- Mẹ ơi! Lạy chúa tôi! Vâng hình như đó chính là hắn! Lạy chúa tôi! Mẹ ơi!
- Ta đi thôi! – Andre nói với tôi. – Tôi không thể chịu được những người đàn bà thần kinh này!
Xin lỗi, tôi không hình dung được đây là Andrei Tsezarevich Kolans, một cựu chuẩn úy hải quân, mà hiện nay là người chăn dê cho mẹ mình, một cựu sĩ quan thủy lôi từ một đơn vị vận tải quân sự trước đây dưới cái tên cũ là “Ratmir”.
Trong vườn trẻ không có cái gì để có thể ngồi hoặc nằm. Chỉ có mấy chiếc ghế con và bàn con. Đành phải ngồi lên các bệ cửa sổ hoặc đơn giản là ngồi xuống sàn nhà. Tôi cũng ngủ trên sàn, cuộn người trong tấm thảm đầy bụi đã rụng hết xơ len, mặc cho lệnh cấm của bà đô đốc.
Tôi cuộn tấm thảm thành một ống dài, buộc lại bằng một sợi dây điện thoại, rồi chui vào trong cái ống len này, rúc đầu vào trước. Sáng ra tôi lại chui từ trong ống ra cũng theo kiểu như vậy, chui đầu ra trước, nhưng chỉ theo hướng khác. Sau một đêm tôi đã chui xuyên qua cuộn thảm.
Cuộn thảm len này đối với tôi là một nơi trú ngụ an toàn và thậm chí còn khá ấm cúng trong thời gian sống ở Sevastopol lúc đó. Lang thang vô định khắp cái thành phố lạnh cóng đến bạc cả tóc, tôi chờ cho đến tối, đến giờ phút mà cuối cùng tôi có thể chui vào trong tấm thảm, sưởi ấm một chút, và tôi bắt đầu nằm mơ những giấc mơ rất mạch lạc và hầu như đều giống nhau. Có lẽ tôi mơ thấy những giấc mơ này vì bị ngột thở.
Mà tôi mơ thấy chủ yếu là những thành phố nhỏ giữa các tảng đá, các khu vườn, cạnh các con suối nước chảy rào rào hoặc trên các bờ biển, nơi những cánh rừng dẻ gai mọc lan ra đến tận các bãi tắm.
Tất cả những thành phố này đều có những người thân hoặc người quen. Ở đó mấy lần tôi đã gặp Lelia và ông nội Netchipor, gặp cha tôi và họa sĩ Vrubel, gặp anh học viên hải quân từ chiếc tàu thực tập “Azimut” và thầy giáo dạy tiếng la tinh Suboch, gặp nhà thơ Voloshin và anh y tá Anoshenko, “hiệp sĩ tí hon” Gronsky và giáo sư Giliarov, gặp bác thợ sắp chữ từ xưởng in Sytin và Ivan Bunin, gặp Liusvena và Amali Knoster. Với mỗi một trong số những người này đã xuất hiện trong giấc mơ những sự gắn kết bền chặt và những mối quan hệ khác thường làm xao động con tim. Khi rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng tôi thường tìm trong các giấc mơ này những người quen biết. Tôi biết rằng lúc đó họ cũng đang tìm tôi và rằng cuộc gặp gỡ của chúng tôi có lẽ sẽ đánh dấu những sự kiện tuyệt vời, đáng vui nào đấy, nhưng cuộc gặp gỡ này sẽ không bao giờ xảy ra.
Sau những giấc mơ như thế tôi bắt đầu hiểu rằng cuộc đời của tôi quá dài, trong khi cho đến bây giờ nó làm cho tôi cảm thấy thời gian trôi nhanh và không để lại một dấu vết rõ ràng nào. Khi tỉnh giấc tôi nhẩm tính lại trong đầu những giấc mơ này và nhắc thầm mấy vần thơ của Fet:
Cuộc sống trôi qua không để lại dấu vết rõ ràng nào. Linh hồn bay mất – ai nói cho tôi biết nó đi đâu? Với mục đích nào đã chọn trước?
Mọi thứ trong những vần thơ này đến bây giờ đều không còn đúng và không đáng tin cậy đối với tôi, nhưng tôi thích nhắc lại chúng. Có lẽ vì chúng tạo ra một sự tương phản rõ ràng với tất cả những gì xảy ra bên cạnh.
Chúng không chết đi, tất cả những ngôn từ này, tất cả những giai điệu này, bắt đầu từ Zhukovsky và Pushkin. Chúng sống giữa nạn đói, bệnh tật, những cuộc bắn giết, giữa sự nhiệt tình, xử bắn, xả thân, phẫn nộ, nghèo đói cùng cực và niềm tin không gì lay chuyển được vào tương lai, và chúng khẳng định với tôi một chân lý giản đơn rằng trái tim của nhân dân không thể bị tổn thương và quần chúng nhân dân này không thể nào bị diệt vong cả về mặt thể xác cũng như tinh thần. Tôi đã hiểu rằng tương lai thật sáng sũa và tôi tin vào tương lai đó. Tôi đã hiểu rằng khổ đau của những tháng năm này sẽ nhân rộng tầm vóc thành quả của nhân dân thời kỳ này – thời kỳ của những hy vọng lớn lao.
Nhưng đành phải chấm dứt tất cả những ý định này, những hồi ức về các vần thơ, những giấc mơ lạ lùng và chui ra khỏi tấm thảm trong cái lạnh tái tê của những bức tường xám xịt và của một ngày băng giá. Tôi vừa chui ra khỏi tấm thảm thì ngay lập tức đầu tôi bị lạnh buốt.
Tôi đến chỗ bà đô đốc, đứng uống cốc sữa dê nóng và đi ra khỏi nhà.
Đôi khi chúng tôi ra khỏi nhà cùng với viên chuẩn úy hải quân và con dê bẩn thỉu Marta. Con dê có bộ lông màu xám mượt mà, cái màu thường thấy ở những cây bạch lạp để lâu ngày hoặc mỡ lợn ôi.
Tay chuẩn úy hải quân dắt con dê được buộc bằng một sợi dây thừng ra đại lộ Lịch sử. Ở đó con dê gặm cỏ khô tại vị trí các pháo đài anh hùng thời kỳ bảo vệ Sevastopol.
Những lúc đi đường như thế này tay chuẩn úy hải quân nói cho tôi biết rằng chị Maria của hắn là một người đàn bà “điên điên khùng khùng”, rằng chị hắn bị mất trí vì sùng đạo và cứ cách một ngày chị ấy lại đặt lễ cầu hồn trong nhà thờ cho đô đốc Koltchak. Hầu như tất cả những người đàn ông thấp lùn chị đều coi là những ngài Koltchak mặc quần áo cải trang. Chị ấy cũng coi tôi là một Koltchak mai danh ẩn tích, chính chị đã nói với mẹ về điều này ngay trong buổi tối chúng tôi làm quen nhau.
Suốt ngày tôi lang thang ở đại lộ Lịch sử, chuyện trò với tay chuẩn úy hải quân. Đằng nào cũng chẳng biết đi đâu. Chúng tôi nhẩn nha nhai một ổ bánh mì khô bé tí xíu. Ổ bánh mì phủ một lớp vỏ trắng như vôi. Lúc đó tôi có cảm giác như cả thành phố Sevastopol bị bao phủ bởi cái vỏ trắng như vôi này. Cái vỏ đó từ những tòa nhà tràn xuống và kêu lạo xạo dưới bước chân.
Sau đó tôi đến nhà ăn của Hội thủy thủ, ở đó người ta dọn cho tôi một đĩa xúp. Trong nhà ăn tôi tìm cách viết và gửi về tòa soạn báo “Người thủy thủ” qua phòng truyền thanh của cảng một số bản tin về Sevastopol. Một trong những bản tin đó viết về cuộc đấu tranh anh dũng của con tàu “Dimiria” và đội thủy thủ của tàu với cơn bão biển băng giá[11], bản tin thứ hai – về trường hợp mà theo quan điểm của chúng tôi lúc đó là không có gì lớn, nhưng đơn giản là nó làm cho tôi ngạc nhiên trong mùa đông Sevastopol năm đó.
Cách không xa vịnh Artillerisky người ta bắt đầu xây dựng một trường học. Tôi có cảm tưởng rằng việc xây dựng này lúc đó là một việc thần kỳ.
Những con người bị bụi tuyết phủ đầy, phờ phạc lảo đảo vì mệt mỏi đang đào móng, dùng cuốc chim bổ vào nền đất rắn như đá, thở khò khè nặng nhọc và thường phải ngồi nghỉ giải lao trên những tảng đá vôi Inkerman, lấy tay chùi nước mắt trên đôi mắt đỏ quạch vì gió biển thổi không lúc nào ngớt. Mỗi nhát cuốc chim tốn bao nhiêu sức lực của người công nhân. Nhưng mặc dù vậy hố móng mỗi ngày một xuống sâu hơn, rồi sau đó những tấm đá vôi nặng đầu tiên đã được đặt xuống rảnh.
Thời kỳ đó sự kiện phi thường này tôi cảm thấy là một điều kỳ diệu. Và nó chính là một điều kỳ diệu của sự kiên cường. Trong đó dường như niềm hy vọng lớn lao của con người vào tương lai đang được hiện thực hóa.
Từ nhà ăn tôi đi bộ hoặc ra bờ biển vịnh Nam, nơi tiếng súng bắn chim cốc không lúc nào ngừng, hoặc ra khu chợ. Ỏ đó người ta đổi bánh mì lấy vàng và thuốc tây. Nhưng chẳng ai có vàng và thuốc tây.
Có lần tôi đi Khersones, nhưng đi không đến nơi. Quang cảnh trông u buồn làm sao trên khu đồng hoang xa xăm đen mờ như khói, cỏ khua xào xạc dưới gió nghe thật thê lương như những tiếng mõ khẽ khàng, và khi xô vào bờ bọt trắng tang thương biển rên rỉ buồn rầu làm cho tim tôi thắt lại vì nỗi cô đơn và tôi không đi tiếp mà quay về lại Sevastopol.
Đã hết tuần thứ hai tôi ngồi ở Sevastopol. Tại Hội thủy thủ đài phát thanh đã thông báo rằng con tàu “Pestel” ngày một ngày hai sẽ khởi hành từ Odessa, nhưng vẫn chưa thấy nó đâu cả. Có thể nó chưa rời Odessa, mà cũng có thể nó đã bị đắm. Không ai biết rõ như thế nào.
Tôi tiếp tục lang thang khắp thành phố, thỉnh thoảng lại ghé đến Panorama nỗi tiếng, nơi chẳng có ai đến cả. Bức họa lớn của họa sĩ Rubo rung rinh trong gió lạnh như băng.
Tôi tìm khắp thành phố những nơi ấm áp và chẳng biết bằng cách nào đó tôi lại đến nhà thờ. Tại đó cái lạnh xuyên qua những đế giày thủng, hơi nước bay ra thành từng đám khi thở ra, nhưng cạnh bàn thờ năm-sáu ngọn nến to đang sáng, và cảm giác quen thuộc về sự ấm áp do ánh lửa phát ra làm cho tôi ấm lên đôi chút. Nhưng dù thế nào đi nữa cái rét run người vẫn hành hạ tôi suốt ngày.
Cuối cùng từ Odessa đài phát thanh đưa tin con tàu “Pestel” đã đi Batu và sẽ đến Sevastopol sau một ngày đêm. Lúc đó tôi thu xếp đồ đạc ra bến tàu. Chúng tôi có sáu người đợi “Pestel” đến. Người ta cho phép chúng tôi ngủ qua đêm trên bến, trong một buồng xép dán những tờ giấy ghi biểu hành trình giờ tàu.
Tôi vui mừng được ở trong buồng xép này, dù chỉ là vài giờ. Ở một góc của căn buồng có một lò sưởi bằng gang vẫn còn tỏa hơi ấm.
Tất cả chúng tôi đều cảm thấy hơi ấm này như một điều kỳ diệu thực sự, một niềm hạnh phúc hiếm hoi đến mức một chị phụ nữ đứng tuổi thậm chí đã phát khóc khi ngồi cạnh lò sưởi.
“Pestel” đến vào buổi sáng. Từ ngoài vùng biển hoàn toàn vắng lặng bỗng xuất hiện hình dáng xa xa và xinh xắn của con tàu cổ xưa với mũi tàu nhọn và chiếc cột buồm nghiêng nghiêng. Cả con tàu còn bị bao phủ trong sương, trong màn khói phơn phớt vàng bí ẩn nằm ỏ phía chân trời và nó từ từ tiến gần đến Sevastopol. Thành phố cũng chìm trong màn khói phơn phớt đỏ, chuyển dần sang màu vàng dưới ánh nắng mặt trời.
Một ngày miền biển trong lành, được tạo ra bởi cái lạnh se se và màu xanh dìu dịu, một ngày đẹp trời. Nhưng tôi cảm thấy Sevastopol còn đẹp hơn, đáng yêu hơn và lưu luyến hơn lúc phải chia tay, khi trên các vùng vịnh im lìm vì lặng gió của thành phố vang lên tiếng còi dóng dã của “Pestel”. Tiếng còi dường như đã làm cho cái yên lặng đang ngự trị vỡ toang ra thành hàng trăm mảnh. Và những mảnh vỡ này, kết lại thành chuỗi bay dọc theo các bờ biển xanh xanh sương mù, để rồi rơi xuống với tiếng vọng ai oán cuối cùng trên doi đất Aiia, Laspi, Foros, Meganom và Karadag – cạnh tất cả các doi đất và bãi tắm thoai thoải của vùng Tavrida còn chưa được đánh thức sau cơn thập tử nhất sinh, vùng đất đói nghèo nhưng luôn kỳ diệu.
Sevastopol trong ngày chia tay lại hiển hiện lên trước mắt tôi như một thành phố hoành tráng, bình dị, nhận thức đầy đủ tinh thần dũng cảm và nét lộng lẫy của mình, hiển hiện lên như một Akropol của nước Nga – một trong những thành phố tuyệt vời nhất trên thế giới [12].
BÃO CẤP MƯỜI MỘT - Paustovsky K.
chauphanbach | 06 May, 2012 08:46
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
>> 19a. Thời gian chậm trôi
>> 19b. Thời gian chậm trôi (Tiếp theo)
>> 20. "Vĩnh biệt, Odessa của tôi, Karantin vinh quang!"
>> 21a. Bão cấp mười một
>> 21b. Bão cấp mười một (tiếp theo)
BÃO CẤP MƯỜI MỘT
Chiếc tàu “Dimitria” chất vào hầm tàu những quả thủy lôi để chở đến Sevastopol, nhận lên boong tàu hai trăm nhân viên thu mua là những người đi đến Krime để lấy muối, và tàu rời Odessa.
Ra tiễn tôi chỉ có Izia Livshits.
Đó là một ngày mùa đông thời tiết hơi se lạnh và lặng gió. Trên các đê chắn sóng tại vị trí hôm qua còn là những vũng nước thì hôm nay phủ một lớp váng băng mỏng như tấm mi ca. Tuyết rơi lưa thưa. Tưởng chừng có thể đếm được tất cả các bông tuyết.
Những con chim hải âu vừa bay vừa nhúng đôi chân đỏ bị lạnh cóng xuống nước, như để cho ấm chân.
“Dimitria” đang đổ cạnh đê chắn sóng, bị nghiêng khá nhiều sang một bên. Đến gần trông chiếc tàu bé hơn so với lúc đứng trên đại lộ nhìn xuống. Từ tất cả các khe hở, chiếc tàu “Dimitria” đang phì phò và hơi nước phát ra âm thanh lèo xèo dữ tợn. Từ phía con tàu bốc lên mùi nhà tắm hơi và mùi của hiệu giặt.
Boong tàu ngổn ngang các đống bao tải. Nằm và ngồi trên đó là các nhân viên thu mua – mấy chị phụ nữ bịt khăn quàng qua mắt, và những người đàn ông đi ũng bốc mùi nhựa đường.
Người ta sắp xếp cho tôi ở tại một khoang bốn chỗ. Trong đó dồn vào tám người. Bốn người nằm trên giường, ba người nằm xuống sàn, còn một người – công nhân đường thủy từ sông Volga – ngồi trên chậu rửa mặt, vì dù sao thì cũng chẳng có nước trong chậu rửa mặt.
Anh ấy cũng ngủ luôn ở đó. Ban đêm chúng tôi dùng vải trải giường buộc anh chàng quê trên sông Volga vào cái mắc áo đóng trên tường để anh không ngã xuống những người đang ngủ phía dưới.
Nhưng anh chàng quê trên sông Volga không hề phàn nàn. Anh cảm thấy ngượng ngập giữa những người thủy thủ đường biển và cứ cố ngồi kín trong bóng tối.
Ngoài tôi và anh chàng quê trên sông Volga ra, tất cả những người còn lại trong khoang tàu đều là lính thủy. Cùng với hai người trẻ nhất tôi nằm ngủ trên sàn.
Nằm cạnh tôi là một cựu chuẩn úy hải quân, thuyền trưởng tàu hoa tiêu Sanzheizky, ngay buổi tối đầu tiên của chuyến ra khơi anh ấy nói không nhằm vào ai:
- Tôi chân thành khuyên các đồng chí dân sự trong trường hợp có xảy ra chuyện gì thì đừng rời khỏi bọn tôi, những thủy thủ.
Tôi không nói gì, nhưng anh chàng quê sông Volga đánh bạo hỏi:
- Anh nghĩ chuyến đi biển này sẽ gặp nguy hiểm à?
- Theo các số liệu có được, - anh chuẩn úy hải quân tỏ vẻ hài lòng trả lời, - con tàu “Dimitria”, theo cách nói của người Pháp, đang đi thẳng vào chiếc áo quan mở nắp.
Chính ủy cảng Nikolaevsky gay gắt chấn chỉnh viên chuẩn úy hải quân.
Nhưng hiện giờ chưa thấy có những dấu hiệu nguy hiểm nào. Chúng tôi rời bến trong sương mù nhẹ lấm tấm rơi. Ban công nhà hát thành phố, mái vòm nhà hát Opera, cung điện Vorontsov, sau đó là khu Fontan và tháp Kovalevsky quen thuộc – tất cả những thứ này vừa lắc lư vừa từ từ chìm vào khoảng xa mờ mịt và không bao lâu sau đã hoàn toàn khuất hẵn. Những ngọn sóng bất tận rì rào khe khẽ, đuổi theo nhau.
Trong khoang bếp tàu thủy tìm được một ấm đun nước, và chúng tôi ngồi xuống sàn, nhấm nháp trà pha đường sakharin khá ngon.
Đến chiều tối sóng bắt đầu đập rào rào mạnh hơn, nhưng cái mùi hiền hòa của hơi nước, của khói than đá và sự rung lắc đều đều của con tàu làm tất cả mọi người yên tâm.
Tôi ngủ say. Thời gian trôi qua bao lâu tôi cũng chẳng biết, nhưng khi tôi tỉnh giấc thì ngọn đèn trên chậu rửa mặt bật sáng, nhưng mờ mờ và xa lơ xa lắc, tưởng chừng như cách chỗ tôi cả hàng cây số, anh chàng quê trên sông Volga đang lắc lư, nắm tay vào chậu rửa mặt, vai tôi va vào cánh cửa khoang tàu, và mọi thứ chung quanh kêu răng rắc với mức độ to nhỏ khác nhau. Nghe thấy rõ con tàu “Dimitria” ì ạch trườn trên mặt nước và nặng nhọc xé nước.
- Chà, biển động! – anh lính thủy nào đó chán nãn nói. – Sau một giờ sóng đã mạnh lên đến cấp bảy.
Nhưng mấy người thủy thủ vẫn bình tĩnh, và điều đó đã khích lệ chúng tôi, những dân thường.
Trong khoang tàu chật chội và ngột ngạt. Khoang tàu bỗng bất ngờ bị xô lệch, cố dồn tất cả chúng tôi vào thành một đống, sau đó lắc chúng tôi từ bên này sang bên kia, chà xát chúng tôi lên mặt sàn như những cái bàn chải lau sàn.
Viên chuẩn úy hải quân trẻ hé cửa và nhìn ra hành lang. Ngoài đó các nhân viên thu mua nằm ngổn ngang san sát sau khi chạy xuống từ boong tàu. Đứng giữa đám người đang nằm đó là một bác Do thái già, mặc áo bành tô dài, hai tay run rẩy vịn vào tường hành lang hẹp.
- Sao bác lại đứng thế? – viên chuẩn úy hải quân nói. – Bác sẽ bị say sóng đấy. Cần phải nằm xuống.
- Chẳng lẽ ngài không thấy, thưa ngài, - bác Do thái nói, - là tôi chẳng còn chỗ nào để nằm sao?
Không hiểu bác già nhà quê này đi đâu. Nói chung trông bác hoàn toàn lạ lẫm trên chiếc tàu thủy kêu ken két khi bị tròng trành vì biển động ban đêm.
Viên chuẩn úy hải quân bước ra hành lang, đẩy mấy nhân viên thu mua đang ngủ và dẹp chỗ cho bác già nằm.
- Một nhân vật sùng đạo từ thời đại hồng thủy toàn cầu! – viên chuẩn úy hải quân nói sau khi quay về khoang tàu.
Tôi nằm cạnh tường và nghe những cuộn sóng biển làm con tàu dồi lên dồi xuống, đập vào mạn thép mỏng. Tôi thấy lo sợ. Thật khủng khiếp khi biết rằng chỉ cách khuôn mặt đỏ bừng của mình có bốn milimét là cả núi nước biển lạnh cóng cuồng dại đang lao ầm ầm trong bóng đêm. Mà cái bóng đêm dày đặc làm sao!
Tôi nhìn ra ô cửa kính mạn tàu. Ngoài đó là một không gian đen ngòm như ở dưới lòng đất, không nhìn xuyên qua được, trong cái hỗn loạn nguyên thủy của những khối nước khổng lồ đến mức khó hiểu.
Không ai ngủ được. Mọi người lắng nghe con tàu “Dimitria” kêu răng rắc. Không thể hiểu được tại sao cho đến lúc này mấy bức vách mục nát của khoang tàu, sàn và trần chưa gãy vụn ra, khi mà sự tròng trành làm cho tất cả các ốc vít, bu lông, thanh nẹp và đinh ri vê đầu vênh váo, cong queo và bung ra.
Mỗi lần nghe tiếng kêu răng rắc mạnh tôi đưa mắt nhìn các thủy thủ. Họ vẫn bình tĩnh, nhưng hút thuốc liên tục. Tôi cũng hút thuốc nhiều, vừa hút vừa trấn an mình rằng độ nổi dự phòng của con tàu “Dimitria” của chúng tôi lớn hơn nhiều so với dự tính của tôi, một đồng chí dân sự dốt nát.
Tất cả chúng tôi đều chờ trời sáng. Nhưng buổi sáng vẫn còn lẫn trốn ở một nơi quá xa trong màn đêm dày đặc, gầm réo, bao phủ nửa thế giới.
Tròng trành càng mạnh hơn. Con tàu nghiêng lắc dữ dội, lúc sang mạn bên này, lúc sang mạn bên kia. Chân vịt mỗi lúc một nhô lên nhiều hơn khỏi mặt nước. Lúc đó “Dimitria” rung mạnh và gầm rú lên vì cố sức.
- Nhưng chúng ta có thể sẽ bị ném lên bờ vì một cơn bão không nhỉ? – anh chàng quê trên sông Volga bất ngờ vừa hỏi, vừa cố bám chặt chậu rửa mặt.
Các thủy thủ khinh khỉnh im lặng. Chỉ mười phút sau vị chính ủy nghiêm nghị mà hiền lành của cảng Nikolaevsky mới trả lời:
- Bão đã mạnh đến cấp mười. Tất nhiên mọi thứ đều có thể xảy ra. Nhưng đừng vào gần bờ. Càng xa bờ càng an tâm hơn.
- Tại sao vậy? – anh chàng quê sông Volga hỏi.
- Vì rằng ở gần bờ con tàu sẽ bị sóng dồi lên cao và va chạm vào đáy. Hoặc vào đá ngầm. Và không ai thoát thân được.
Còn tôi thì vừa nhìn từng mười phút một trên chiếc đồng hồ để chờ trời sáng, vừa hy vọng rằng chúng tôi có thể đến được bờ biển bắc Krime và lên bờ - lên vùng đất cát sỏi cứu mạng và buồn tẻ này.
Nửa đêm anh chuẩn úy hải quân trẻ ngồi dậy, mang giày, mặc áo mưa da có mũ trùm đầu và nói với vẻ kẻ cả:
- Lên xem thử họ làm gì trên đó. Anh đi ra, nhưng không bao lâu sau thì quay lại, cả người ướt như chuột lột, từ mũ trùm đầu cho đến gót chân.
Không ai hỏi anh câu nào, nhưng mọi người căng thẳng chờ đợi cho đến khi anh tự nói ra.
- Lời nói là bạc, còn im lặng là vàng, - viên chuẩn úy hải quân thốt lên với giọng giễu cợt. – Nào, vậy thì nghe đây. Sóng đánh tràn qua boong tàu. Cuốn đi mất hai trong số bốn chiếc xuồng. Dầm mạn tàu bị bẻ cong. Đến cấp mười một. Nhưng hiện tại điều đó còn là chuyện vặt.
- Những chuyện vặt tốt lành! – vị tư lệnh cảng Nikolaevsky thốt lên và ngồi xuống giường. – Kể tiếp đi! Còn chuyện gì nữa?
- Sóng đánh vỡ khoang mũi tàu, và ở chỗ chúng ta có một ít nước chảy...
- Nồi hơi còn hoạt động chứ? – vị chính ủy hỏi nhỏ.
- Vẫn hoạt động. Tạm thời đang được khắc phục. Nhưng máy không chạy nữa.
- Chúng ta vẫn đang di chuyển chứ?
- Vấn đề là ở chỗ, thưa đồng chí chính ủy, chúng ta đang chơi vơi.
- Bị trôi dạt à?
- Đúng vậy!
- Về phía bờ Rumani à?
- Đúng vậy!
Viên chính ủy đứng dậy và bám tay vào chiếc giường tầng trên.
- Đến đúng chỗ đó... – ông bắt đầu nghẹn giọng. – Tôi phải đến gặp thuyền trưởng để hỏi cho rõ.
Ông đi ra. Chúng tôi im lặng một hồi lâu.
- Thật khôi hài là ở chỗ, - một thủy thủ nói, - tại những vùng bờ biển này của Rumani trong thời gian chiến tranh bọn Đức đã rải xuống hàng chùm thủy lôi một cách rất phí phạm. Những quả thủy lôi vẫn còn nằm ở đó cho đến tận bây giờ. Nếu chúng ta trôi dạt vào những quả thủy lôi này...
Anh ấy không nói hết là lúc đó điều gì sẽ xảy ra cho chúng tôi, nhưng chẳng cần thế chúng tôi cũng biết quá rõ điều gì.
Vị chính ủy đã quay trở về, không cởi chiếc áo bành tô ra, ông ngồi xuống giường và hút thuốc.
Bên ngoài sóng vẫn gầm réo và xô đập như tiếng đại bác nổ, thừng chão rít lên, mỗi lúc tiếng rít càng to hơn. Nghe tiếng rít này máu như đông lại.
- Người ta đã phát tín hiệu SOS, - vị chính ủy bỗng nói rồi ngừng lại một chốc. – Vô ích thôi! Trong các cảng của chúng ta không có chiếc tàu nào. Mà từ Bosfor trong cơn bão thế này chẳng ai thò mũi ra, dù là tàu “Siuperb”. Đến cấp mười một. Thế đấy, các bạn ạ.
Mọi người cau có im lặng. Có thể nghe thấy tiếng nước chảy róc rách ngoài hành lang. Nước tràn xuống từ boong tàu qua bậc gờ cao bằng thép.
Một ngày đã trôi qua như vậy, đêm thứ hai vô vọng lại đến trong tiếng gầm gào của bão lốc. Nhưng cơn bão vẫn chưa tan, và có cảm tưởng như nó chỉ tan vào ngày tận thế của thế giới.
Sang ngày thứ ba xuất hiện tình trạng rã rời mệt mỏi ở mọi người. Có lẽ nó bao trùm lên tất cả, thậm chí những thủy thủ dày dạn.
Sang đêm thứ tư tôi ngồi nhắm mắt, hai tay tì lên sàn, và nhẩm đếm những cú rung lắc của con tàu. Đôi lúc chúng rung lắc yếu đi, và khi đó tôi châm thuốc hút. Nhưng sự yên ắng đánh lừa này kéo dài không lâu, trái tim lại như muốn vỡ tung ra, lịm đi, và khoang tàu bị nhấc bổng lên, rơi nghiêng vào một vực thẳm vô hình.
Rồi sau đó ánh sáng xam xám tồi tệ bắt đầu tràn vào sau ô cửa kính mạn tàu, chậm rãi một cách khủng khiếp, dùng dằng như suy tính xem có nên quay lại hay không. Tiếng rít của dây dợ vang lên the thé chói tai.
Gió đông bắc thổi ào ào, “tai họa trời giáng”, như các thủy thủ thường nói. Qua các thủy thủ tôi biết rằng gió mùa đông bắc sẽ kéo dài hoặc ba ngày, hoặc bảy ngày, và cuối cung hoặc mười một ngày.
Ngoài hành lang các nhân viên thu mua nháo nhác và bắt đầu chuyện trò với giọng khản đặc, mấy chị phụ nữ kiệt sức nằm khóc. Một cụ bà nào đấy luôn mồm lẩm bẩm điên loạn lúc nào cũng chỉ một lời cầu nguyện: “Lạy chúa lòng lành, chúa cương nghị, chúa bất tử, xin hãy thương chúng con!”. Khi tàu lắc mạnh hình như bà cụ hốt hoảng, đột ngột dừng lời cầu nguyện và nói vội nói vàng: “cương nghị hãy thương chúng con!”.
Tôi quyết định đi lên trên boong tàu lần đầu tiên. Các thủy thủ bảo rằng ngồi trong khoang tàu tâm trạng nặng nề hơn so với đứng bên ngoài.
Vị chính ủy cảng Nikolaevsky đi cùng với tôi.
- Anh không thể đi một mình, - ông nói. – Không có tôi người ta không cho anh lên trên boong tàu đâu. Và, hơn nữa, anh có thể bị nước táp vào người.
Men theo dòng nước chảy xuống, trong cái mùi lợm giọng của những bãi nôn chúng tôi đi giữa những nhân viên thu mua đang nằm rên khừ khừ ngay trên vũng nước, đến một cầu thang hẹp. Cầu thang dẫn lên buồng lái tầng trên, rồi từ đó ra boong tàu.
Viên chính ủy tì mạnh lưng vào cánh cửa buồng lái. Cánh cửa bật ra. Một luồng không khí từ bên ngoài xô mạnh vào chúng tôi.
Tôi tóm chặt một sợi cáp lạnh như băng và nhìn thấy những gì mà tôi đã đoán trước khi ở trong khoang tàu tối mò, - quang cảnh một cơn bão biển mạnh chưa từng thấy. Bằng cái cảm giác chết lịm người nó làm cho tôi nhớ đến những nỗi tuyệt vọng và những cảnh đẹp làm ta hãi hùng.
Tôi đứng đó, mặt đối mặt với cơn bão – một hạt bụi của loài người, trông thật thảm hại, mất hết chút hơi ấm cuối cùng, mà cơn bão thì gầm thét, mang đến những con sóng hung tợn màu sắt thép, quật đổ những ngọn sóng vào những vực thẳm đen ngòm, tung lên bầu trời sưng húp những hạt nước tung tóe và hơi nước lạnh cóng, xô vào những quả núi nước biển nặng hàng ngàn tấn, xé toang bầu không khí và ném mạnh vào mặt đám bọt nước nhơm nhớp.
Mũi của chiếc tàu “Dimitria” lúc thì bốc lên cao gần chạm những đám mây, lúc thì ngập xuống nước. Những con sóng dài và dựng đứng bốc lên cao và chạy từ đường chân trời bên này sang đường chân trời bên kia. Chúng đuổi những ngọn sóng bạc đầu chạy phía trước và khi đổ xuống chúng mở ra một bức tranh hùng vĩ và bi thương về sự chuyển động của khối nước khổng lồ màu chì – của một vùng cuồng phong, mà chúng ta phải vượt qua nó để sống sót.
- Nhìn kìa! – viên chính ủy hét to và chỉ tay ra biển. Tôi không hiểu gì cả và băn khoăn nhìn ông
- Nhìn kìa, nó bốc hơi thế kia! – ông lại hét to lần nữa.
Và lúc đó tôi đã nhìn thấy giữa những cuộn sóng đang gào thét có những dòng hơi nước cuồn cuộn và hung dữ tách ra từ khối nước xanh xám, trông như một đám khói bay ra từ nòng súng.
Sau đó, trong khoang tàu, viên chính ủy giải thích cho tôi rằng những cột hơi nước này luôn luôn từ trong nước hắt ra khi những cơn bão mang không khí lạnh tràn vào vùng biển ấm áp.
Sau đó tôi nhìn thấy ở phía trước một bức tường khổng lồ của khối nước biển điên cuồng đang lao về phía chúng tôi với tiếng gầm rú vũ trụ trên suốt đường viền chân trời. Viên chính ủy nắm tay tôi và lôi vào trong buồng chỉ huy. Cánh cửa tự đóng kín lại.
- Giữ chặt tay vào! – viên chính ủy hét to.
Trong buồng chỉ huy bỗng tối om. Con tàu “Dimitria” lắc mạnh, bị tung lên cao ngang đường ngấn của quả núi nước, sau đó nó khựng lại và run rẩy chìm xuống nước ngập đến tận cầu chỉ huy của thuyền trưởng. “Thế là hết! – tôi nghĩ. – May mà chưa hét lên vì khiếp sợ”.
Con tàu rống lên ầm ầm, nghiêng sang một bên, và qua ô kính mạn tàu tôi nhìn thấy cả thác nước dài từ trên boong tàu chảy trở lại xuống biển.
- Cái gì xảy ra thế nhỉ? – tôi hỏi viên chính ủy một cách ngu ngốc.
- Còn hai-ba con sóng như thế này nữa, và xin vĩnh biệt! – ông to giọng trả lời và nhìn tôi bằng đôi mắt trắng dã, hờ hững.
Nhưng không có con sóng thứ hai, thứ ba nào đến cả. Biển vẫn gầm gào điên dại như thế, nhưng sự rung lắc của con tàu “Dimitria” dường như ít hơn và dịu hơn.
BÃO CẤP MƯỜI MỘT (Tiếp theo) - Paustovsky K.
chauphanbach | 06 May, 2012 08:22
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
>> 19a. Thời gian chậm trôi
>> 19b. Thời gian chậm trôi (Tiếp theo)
>> 20. "Vĩnh biệt, Odessa của tôi, Karantin vinh quang!"
>> 21a. Bão cấp mười một
>> 21b. Bão cấp mười một (tiếp theo)
BÃO CẤP MƯỜI MỘT
(Tiếp theo)
Chúng tôi thở phào và quay trở về khoang tàu. Gió không còn rít lên như cách đây không lâu, mà rào rào đều đều trên các thừng chão và ống khói tàu. Trong cơn cuồng loạn của trận bão đã xảy ra một đột biến bất ngờ.
Thủy thủ trưởng nhìn vào khoang tàu với bộ mặt tái sạm do gió mùa đông bắc và nói rằng máy tàu lại chạy và con tàu chúng ta đúng là đã chạy đối đầu với cơn bão, dù là chạy chậm.
Các thủy thủ tươi tỉnh lên. Thậm chí họ còn bắt đầu lôi từ trong mấy chiếc va li và ba lô của mình ra những món thực phẩm ít ỏi nào đó.
Tôi khoan khoái nhai một mẩu bánh mì bằng lúa mạch khi từ phía boong tàu, xuyên qua tiếng rào rào của gió bão, một hồi còi của chiếc tàu thủy hổn hển gào lên.
Các thủy thủ bỗng tái mặt và vọt đứng dậy. Hàng trăm hải lý bốn chung quanh chỉ toàn là mặt biển dậy sóng. Vậy thì tiếng còi này báo hiệu điều gì đây?
Vội vàng cài lại cúc chiếc áo ca pốt, các thủy thủ vội lao lên trên, đến boong tàu. Tôi cũng leo lên theo sau họ. Tôi chuẩn bị để chứng kiến tận mắt cái chết của con tàu “Dimitria”, chứng kiến nỗi sợ hãi đang đến chầm chậm này, nỗi sợ hãi nằm trong một từ ngắn gọn “đắm tàu”.
Nhưng không có điều gì khủng khiếp trên boong tàu. Cả mặt biển vẫn là những ngọn núi hung hãn đang lao đi. Các thủy thủ mặc áo mưa chống bão chạy trên boong lái tầng trên, kéo lê theo sau sợi dây chão.
- Tại sao lại kéo còi? – viên chính ủy hỏi họ.
- Nhìn thấy đất liền! – một thủy thủ trả lời. Tarkhankut!
Viên chính ủy chửi thề vì bất ngờ và lên cầu chỉ huy gặp thuyền trưởng.
Tôi trèo lên sau ông theo một cầu thang hẹp dốc và trơn trượt.
Tôi đã làm quen với thuyền trưởng từ lúc còn ở Odessa. Đó là một cụ già điềm đạm khác thường, tóc bạc, gầy khủng khiếp.
- Tôi xin lỗi, - ông nói với chúng tôi, - vì tiếng còi đã làm phiền. Trợ lý của tôi đứng trực cùng với tôi, nhìn thấy bờ cậu ấy kéo còi vì phấn khởi quá. Làm mọi người hốt hoảng. Xin thứ lỗi cho cậu ta: lần đầu tiên cậu ấy gặp phải trận bão như thế này.
- Còn bác, - tôi hỏi, - có thường rơi vào những cảnh ngộ như thế này không?
- Ở đâu cơ? – thuyền trưởng hỏi và gập góc chiếc mũ vải bạt trên áo mưa lên để nghe cho rõ hơn. – Tại Hắc hải à?
- Vâng, tại đây.
- Hai mươi lần, - thuyền trưởng trả lời và mỉm cười ngượng ngùng.
Đôi mắt xám nhăn nheo của cụ bị gió làm chảy nước mắt. Bàn tay lẩy bẩy đặt trên tay vịn.
- Trước chiến tranh, - cụ bảo, - khi thời tiết có bảo đi biển an tâm hơn nhiều. Còn bây giờ biển đầy thủy lôi. Bão biển lôi bật chúng khỏi các dây neo và đẩy đi tứ tung. Đấy, cứ phải chờ xem khi nào thì bão nó ném quả thủy lôi vào đáy tàu.
- Nhưng tôi không thể nhìn thấy bờ ở đâu cả, - viên chính ủy vừa bỏ chiếc ống nhòm xuống vừa nói lầu bầu với vẻ bực mình. - Chỉ thấy toàn nước là nước.
- Vâng, bây giờ chưa chắc thấy được, - thuyền trưởng tán đồng. – Nó còn xa lắm. Bác hãy nhìn lên trời. Kia kìa, bác có nhìn thấy mội vệt đen trên các đám mây tận phía chân trời không? Đó là đất liền. Nó là một kiểu phản xạ của đất liền lên bầu trời u ám.
Thợ máy trưởng, một người đàn ông mặt đỏ gay như quả ớt, - leo lên cầu chỉ huy.
- Bác Aristarkh Petrovich, - máy trưởng nói với thuyền trưởng bằng cái giọng van nài, - bác về khoang của bác nghỉ đi. Gió lặng rồi. Máy vẫn chạy bình thường. Ở tuổi của bác không nên đứng suốt ba ngày trên cầu chỉ huy và không ngủ - việc đó, bác biết không, cũng giống như là tự sát vậy. Ban chỉ huy muốn điện đàm báo về cho cục hàng hải và cho bác Maria Nikitichna. Với lời phàn nàn về bác.
- Nào, cứ cho là như thế. – Thuyền trưởng cười mỉa. – Tôi chưa cho phép thì nhân viên điện đài không truyền tin đâu. Còn tôi, có lẽ đúng là nên đi nằm một chút. Ba giờ nữa chúng ta sẽ vào vịnh Karadzhi. Nó đây này. – Cụ chỉ trên tấm bản đồ cho chúng tôi xem một vịnh nhỏ hình bán nguyệt nằm ở phía bắc mũi Tarkhankut. – Chúng ta sẽ dừng lại ở đó chờ cho hết bão. Vậy là có lẽ tôi sẽ ngủ cho tới khi đến Karadzhi. Xin lỗi các đồng chí nhé. – Ông xuống cầu thang, nhưng quay lại và hỏi viên chính ủy: - Đội thủy thủ của anh đi trên tàu chúng tôi đấy à? Sáu người.
- Không, không phải của tôi, - viên chính ủy cảnh giác trả lời. – Họ từ Odessa. Nhưng sao cơ?
- Điên đầu mất thôi! Đòi đi cho bằng được, không xuất trình giấy tờ. Một người đeo vòng bạc ở cổ chân. Có nên tin họ không.
- Nhất định tôi sẽ kiểm tra xem, - viên chính ủy nói cho cụ yên tâm.
- Bọn keo kiệt! – bác máy trưởng nói thêm, - Quân lười biếng! Bọn phú nông cải trang. Đeo vũ khí cho oai. Phải cám ơn vì cơn bão đã làm cho đầu chúng sáng ra, nếu không chắc chúng đã làm huyên náo lên và bày trò xúc xắc ra chơi.
Bác máy trưởng đi khỏi. Chúng tôi cùng với viên chính ủy còn đứng lại mấy phút trên cầu chỉ huy bên cạnh bác trợ lý già đã đến thay trực cho thuyền trưởng.
Chúng tôi nhìn lên bầu trời xám nhạt về phía đông, nhìn một dải màu đen trên đó, trông giống như một vệt khói đen bất động. Nếu đó là bóng phản xạ của đất liền, thì từ đây đến đó chẳng còn bao xa.
Muốn ở lại trên cầu chỉ huy, nhưng qui tắc lịch thiệp hàng hải không cho phép chúng tôi làm điều đó, và chúng tôi quay xuống khoang tàu.
Bên dưới, trong các hành lang và các khoang tàu là một bầu không khí ồn ào nhộn nhạo. Mọi người đã biết là đã nhìn thấy bờ và rằng chúng tôi ít bị dồi lắc hơn là do đất liền phúc đức ở phía xa xa kia đã giương cánh che chắn chúng tôi khỏi ngọn gió đông bắc.
Vào giữa đêm vang lên tiếng lẻng xẻng kéo dài của xích neo. Tiếng lẻng xẻng này lặp lại hai lần. Đó là con tàu “Dimitria” đã bỏ neo trong vịnh Karadzhi gần Tarkhankut.
Mũi Tarkhankut từ xa xưa đã được các thủy thủ coi là một nỗi ô nhục. Biển ở Tarkhankut không bao giờ tỉnh lặng, có lẽ do những dòng hải lưu khác nhau đối đầu tại một chỗ. Biển cạnh mũi đất xáo động, và nước giật, dù kéo dài không lâu, sóng dồi làm hành khách kiệt sức và làm các thủy thủ bực mình.
Ngoài ra, ven bờ Tarkhankut có những doi đất bồi thấp – tráo trở, đứng trên boong tàu không thể nhìn thấy khi thời tiết u ám. Thời kỳ còn sử dụng tàu buồm ở đây thường xảy ra các vụ đắm tàu, và vì vậy địa điểm này mang một cái tên đầy đe dọa: “nghĩa địa tàu bè”.
Chúng tôi bỏ neo dừng lại. Chúng tôi chỉ còn bị rung lắc nhẹ, và đôi khi không còn cảm thấy rung lắc tí nào. Lúc đó mọi người thở căng lồng ngực.
Tôi lên boong tàu. Gió thổi vào mặt những hạt tuyết. Chung quanh là màn đêm dày đặc. Trong màn đêm này, về phía bắc và phía nam cách xa nhiều hải lý vang đến từ đâu đó tiếng sóng vỗ oàm oạp, những con sóng không đi vào trong vịnh. Sau đó một ánh lửa bùng lên như tia chớp trên ngọn hải đăng Tarkhankut, mặt biển gợn sóng in bóng một tia sáng trắng và tắt ngay khi có một ánh chớp khác bùng lên.
Tôi quay về khoang tàu. Cả con tàu đã ngủ sâu và mê mệt. Chỉ còn anh chuẩn úy hải quân trẻ nằm mở mắt, mồm lẩm bẩm, đang cố làm ngược lại mọi người: “Ngủ say như chết khi tàu đang neo chết một chỗ”, nhưng ngay lúc đó dường như anh ngã đầu xuống chiếc va li lép kẹp của mình và ngủ thiếp. Tôi viết “hình như” vì tôi không nhìn thấy việc đó: nghe xong câu cuối cùng của anh chuẩn úy hải quân tôi cũng rơi vào giấc ngủ lịm bất tận.
Sáng ra chúng tôi đã nhìn thấy ngay bên cạnh con tàu “Dimitria” đang bỏ neo một đường bờ màu đỏ nhạt. Có lẽ trên khắp trái đất này không có nơi nào buồn tẻ hơn cái vịnh Karadzhi này, nơi cứu sống chúng tôi.
Khu đồng hoang nham nhỡ đất lẫn muối, đôi chỗ có những đám cỏ xám xịt lấp lánh những vệt tuyết. Tuyết nằm trong các chỗ trũng và các khe rãnh.
Phía xa xa, một màn đùng đục bằng phẳng màu đất sét kéo dài như một sợi dây. Trên cái màn đùng đục đó những đám mây đen thấp lửng lờ trôi, vãi xuống những hạt tuyết. Không thấy người, không thấy chim chóc, không thấy cảnh đổ nát của những ngôi nhà tồi tàn, không thấy giếng nước, thậm chí không thấy một tảng đá nào dù chỉ giống với đá bia mộ, không nhìn thấy gì cả trên vùng đất nâu đen này.
Người ta kết tội con người là vô ơn, và đa phần không phải là không có lí. Nhưng lúc đó, sau cơn bão biển khủng khiếp, trong tôi xuất hiện một tình cảm biết ơn đối với vùng vịnh này và đối với vùng đất cằn cỗi của nó.
Theo cái khái niệm thông thường thì hiện nay và mãi mãi vùng đất này bị trời hành. Nhưng nó đã đem tấm thân cằn cỗi bạc màu ra che chắn cho chúng tôi tránh được một thảm họa của thiên nhiên. Sóng điên cuồng vì giận dữ đã xô vào bờ ngay bên cạnh, mạnh đến mức làm cho bờ biển rúng động.
Viên chính ủy cảng Nikolaevsky đưa cho tôi mượn chiếc ống nhòm. Tháo ống nhòm ra khỏi một chiếc vỏ thép âm ấm tôi nhìn một hồi lâu vào bờ với hy vọng sẽ nhìn thấy người. Nhưng cả người và cả những dấu hiệu khác của sự sống đều không nhìn thấy ở đâu cả.
Không thể nào tin được rằng đây chính là một vùng đất của Krime, vùng Tavrida, rằng chỉ cách nơi đây khoảng một trăm kilômét gì đó ánh nắng tỏa hương thơm đang sưởi ấm tán lá của các khu rừng dẻ gai.
Tại vịnh Karradzhi chúng tôi dừng lại bốn ngày. Cơn bão biển vẫn ngoan cố, chưa tan hẵn, và thỉnh thoảng lúc đang long lanh ánh bạc biển lại gầm réo không vì bất cứ sự cần thiết và lý do gì, bắt đầu gieo vào lòng một nổi buồn day dứt.
Trong bốn ngày này con tàu “Dimitria” neo đậu ở đó trông giống như một ngôi nhà nổi – chỗ ở của mọi công nhân cảng và những thủy thủ về hưu, nơi họ sum vầy cùng với gia đình đông đúc và nhiều thế hệ.
Những nhà nổi kiểu đó tồn tại ở hầu hết các cảng lớn. Dưới những ngôi nhà đó là những chiếc tàu cũ và hư hỏng Người ta neo đậu chúng ở góc hẽo lánh nhất của cảng để chúng không làm xấu cảnh quang hiện đại.
Những căn nhà nổi chỉ trong chớp mắt đã bừa bộn những vật dụng phục vụ cuộc sống thường nhật trên cạn, mà chủ yếu là đồ dùng nhà bếp – những ống khói lò sưởi bằng sắt, dây dợ buộc để phơi quần áo, và quần áo đủ màu sắc, mà không hiểu tại sao chủ yếu là màu tím và màu hồng nhạt, - những chiếc chậu sắt méo mó, những chiếc thùng bằng gỗ thanh, nơi những con thỏ, có cặp mắt không hiểu vì sao lại đỏ như quả phúc bồn tử, đang chóp chép mồm, những con mèo đực già đang ngồi liếm lông trên thanh gỗ cột buồm trong bộ dạng của những thủy sư đô đốc về hưu, những con chó con đang sủa về phía đàn hải âu đang nhặt thức ăn thừa chung quanh căn nhà nổi.
Trong bốn ngày neo đậu của con tàu “Dimitria” vải trải giường lập tức được bỏ ra để giặt. Người ta giặt không có xà phòng. Bởi vậy nó bị phủ những vết lốm đốm màu xám vàng. Khắp nơi nồng nặc mùi nhà ở.
Trong thời gian xảy ra trận bão các nhân viên thu mua dửng dưng nhìn công việc tốt đẹp không cần thiết của họ bay vèo xuống biển. Một số nhân viên thu mua khác thậm chí còn giúp đỡ các thủy thủ.
Nhưng đến lúc này, khi nỗi sợ hải về cái chết đã qua đi rồi, các nhân viên thu mua bắt đầu ca thán và phê phán thuyền trưởng là hành động tùy tiện. Điều đó thật vô căn cứ.
Thuyền trường, thực hiện nguyên tắc xử lý khi “gặp tai nạn trên biển”, đã chỉ thị mở khoang chứa hàng, nơi chúng tôi chở một số hạt bột trứng gà cho Krime. Hạt bột được phân phát cho hành khách. Không thể đun nấu chúng được: khoang bếp không làm việc vì bão. Ngoài ra nước ngọt cũng không còn đủ.
Bột có lẫn nhiều phân chuột. Hành khách thắc mắc liệu có lựa chọn hạt bột sạch và ăn khô như ăn các hạt ngủ cốc được không.
Trên con tàu “Dimitria” người ta dè sẻn sử dụng nước. Mỗi người trong một ngày đêm chỉ được cấp một lít nước đùng đục có mùi gỉ sắt từ đáy thùng chứa.
Từ lúc còn là học sinh trung học tôi đã đọc về những cuộc bạo loạn truyền thống trên các con tàu buồm, về khói súng lục và các vị thuyền trưởng bị các toán cướp ném xuống biển. Nhưng chưa bao giờ, chưa gặp bất kỳ tình huống nào và trong bất kỳ thời tiết nào, tôi có thể hình dung rằng mình sẽ chứng kiến cuộc bạo loạn như thế trong thế kỷ hai mươi, trên biển Hắc hải yên bình của chúng ta, ven bờ biển Krime bình lặng.
Cuộc bạo loạn được bắt đầu bởi sáu tên “keo kiệt” – các thủy thủ mặc quần ống loe. Tham gia với họ còn có một số nhân viên thu mua.
- Tại sao chúng ta dừng lại bốn ngày đêm? – mấy thủy thủ hét lên.
Người ta giải thích cho họ rằng cơn bão chưa tan hẵn, rằng giữa Tarkhankut và Sevastopol có một bãi thủy lôi rộng mênh mông còn để lại sau chiến tranh và chỉ có điên rồ mới đi qua đó trong cơn bão biển như thế này.
Mấy thủy thủ và những nhân viên thu mua cử các đại diện đến gặp thuyền trưởng, nhưng sau khi nghe họ, thuyền trưởng nói rằng dù sao đi nữa con tàu cũng phải dừng lại một thời gian theo sự cần thiết và hành khách chẳng việc gì phải can thiệp vào việc không phải của mình.
- Nhưng nghỉ ngơi để mà đói không phải là việc của chúng tôi à? – mấy thủy thủ sừng sộ. – Các thuyền trưởng khác cứ đi bất chấp thủy lôi, họ không sợ gì cả! Còn chúng ta thì sao, đập cho lão thuyền trưởng này một gậy chứ! Hãy bảo lão mở máy và nhổ neo. Mà cuộc chuyện trò của chúng ta với lão sẽ ngắn gọn thôi. Quẳng khỏi boong tàu – và cho toi mạng! Cho nửa giờ để suy nghĩ. Đồ tham sống sợ chết, con heo già, cóc cần lão! Chúng ta sẽ tự lái con tàu! Cứ tưởng là việc to tát lắm!
Mấy nhân viên thu mua vừa đảo lia đảo lịa đôi mắt hiểm độc vừa phụ họa theo các thủy thủ, mặc dù họ cũng lo sợ khi nhìn ra biển. Biển vẫn xô hàng chuỗi cuộn sóng bạc đầu trên một vùng rộng lớn cách xa chúng tôi.
Sang ngày thứ ba tàu đỗ ở Karadzhi thủy thủ trưởng gõ cửa khoang tàu chúng tôi. Anh nói nhỏ rằng mấy người thủy thủ và một bộ phận những nhân viên thu mua đang tụ tập cạnh khoang tàu thuyền trưởng, la hét ầm ĩ, phá cửa khoang tàu và dọa ném cụ thuyền trưởng xuống biển.
Viên chính ủy cảng Nikolaevsky đứng dậy, cài khuy áo ca pốt, cầm khẩu súng lục, ra lệnh cho chúng tôi nếu không cần thiết trước khi có tiếng súng của anh thì không được lên boong tàu, rồi anh đi ra cùng với người thủy thủ trưởng. Trên mặt vị chính ủy lộ vẻ cứng rắn: anh đang điên tiết.
Chúng tôi chờ tiếng súng, nhưng nó đã không xảy ra. Không bao lâu sau những lời đồn đại khó tin đã truyền đến khoang tàu chúng tôi. Theo lời các thủy thủ của tàu “Dimitria” viên chính ủy dường như đã đứng về phía những tên “keo kiệt”. Anh đi vào khoang tàu của thuyền trưởng, và nghe thấy tiếng anh quát to với cụ già. Sau đó anh đi ra, nói với các tên “keo kiệt” rằng thuyền trưởng là một ông già cổ lỗ và phản động, nhưng việc ném ông ấy xuống biển cũng chẳng được việc gì. Cần chọn trong chúng ta một người có thể thay thế thuyền trưởng. Đây là một việc nghiêm túc, vì sau này phải chịu trách nhiệm trước chính phủ. Bởi vậy cần phải thảo luận nghiêm túc không có sự can thiệp của các hành khách dân sự và không có những cá nhân bị mua chuộc – những nhân viên thu mua.
- Ta vào khoang tàu đi! – viên chính ủy nói. – Chúng ta sẽ bàn bạc và cử thuyền trưởng. Nào, những người anh em!
Khi những người anh em cùng với viên chính ủy vừa vào trong khoang tàu xong thì những thủy thủ của tàu “Dimitria” theo lệnh của thuyền trưởng đã nhanh chóng đóng chặt khoang tàu bằng những tấm gỗ dày, vít chặt bằng các đinh bu-lông, và đè thêm lên trên đó những vật nặng lấy từ boong tàu. Có lẽ đây là một việc làm khá mạo hiểm, bởi vậy các thủy thủ của tàu “Dimitria” dù cười đùa, nhưng tay họ vẫn run.
Trong khoang tàu ồn ào những tiếng chửi rủa, sau đó có mấy tiếng súng. Các thủy thủ bắn chỉ thiên. Việc đó hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì cả: họ không thể nào thoát ra khỏi khoang tàu.
Khoang tàu chúng tôi lập tức hiểu ngay ra rằng viên chính ủy đã bàn bạc với thuyền trưởng và cố tình đưa các thủy thủ vào khoang tàu. “Như Susanin[1]!” – anh chuẩn úy hải quân phấn khởi nói. Mọi người lo lắng là trong khoang tàu không có lương thực và nước, và vui mừng về việc viên chính ủy đã không phản bội. Nếu làm khác đi có lẽ anh ấy đã đi toi.
- Nào, tránh xa khoang tàu một chút! Cẩn thận cho! – thủy thủ trưởng thỉnh thoảng kêu lên để phòng xa.
Đến chiều tối cơn bão bắt đầu tan. Tàu “Dimitria” nhổ neo, từ từ nổ máy và rời vịnh. Ngay lúc đó nó bắt đầu tròng trành, nhưng sự tròng trành này so với tròng trành do bão gây ra cách đây không lâu có lẽ chỉ như chiếc nôi đung đưa.
Sáng ra tôi tỉnh giấc vì ô cửa sổ mạn tàu có ánh nắng ùa vào. Tấm kính ô cửa sổ mạn tàu có lớp muối bám vào. Nhưng thậm chí qua lớp màn xam xám của nó vẫn lấp lánh màu xanh trong vắt. Không còn tròng trành nữa, “Dimitria” chỉ rung nhẹ vì chân vịt quay. Một vài phút trôi qua, tôi lại bắt đầu phân biệt được tất cả những thứ chung quanh.
“Dimitria” đi trong màn xanh dày đặc và sâu thăm thẳm. Khó mà nhìn rõ cái vệt nơi màu xanh của biển chuyển sang màu xanh của bầu trời. Mũi Lukull lấp lánh ở mạn tàu bên trái qua bờ dốc đứng phủ một màu vàng óng.
Từ trên dây chão rơi xuống những que băng bị tan ra và đập vào mạn tàu, biến thành hạt tuyết.
Phía sau đuôi tàu có một bức tường đen như mực do màn sương đang tan.
Và trong cái tĩnh lặng của vùng vịnh, trong ánh nắng lấp lánh dè sẻn của mùa đông, trong cái trong sáng và vẻ mỹ miều ngoạn mục miền duyên hải Sevastopol đã hiện ra như một thành lũy Akropol[2] vĩ đại nào đó của nước Nga.
[1] Ivan Osipovich Susanin (phần ba cuối thế kỷ XVI đến 1613 hoặc 1612) —anh hùng dân tộc Nga, nông dân từ làng Domnino (hiện nay thuộc khu Susanin vùng Kosstromskai). Theo truyền thuyết sa hoàng Kikhail Romanov và mẹ ông là nữ tu sĩ Marfa sống trong dinh cơ của mình ở làng Domnino. Biết được điều này, một đội quân của Litsva-Balan muốn tìm đường đến làng để bắt chàng thanh niên Romanov. Đến cách Domnino không xa chúng gặp già làng Ivan Susanin và ra lệnh cho ông ấy chỉ đường. Susanin nhận lời, nhưng dẫn bọn chúng đi theo hướng ngược lại, đến làng Isupov, đồng thời bảo con rể mình đến Domnino để thông báo về mối nguy hiểm này. Do chỉ đường đi không đúng Susanin bị chúng tra tấn dã man, nhưng ông không phản bội chỉ nơi ở của sa hoàng và bị quân Ba lan chặt thành nhiền “mảnh nhỏ” ở vùng đầm lấy Isupov. Mikhail Fedorovich và nữ tu sĩ Marfa trốn thoát trong tu viện Kostrom Ipatevsky.
[2] Akropol – khu vực nhô lên cao được xây đắp kiên cố của một thành phố Hy lạp cổ đại, được gọi là thành phố trên cao, một pháo đài (ẩn náu khi có chiến tranh)
"VĨNH BIỆT, ODESSA CỦA TÔI, KARANTIN VINH QUANG!" - Pautovsky K.
chauphanbach | 01 May, 2012 22:06
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
>> 19a. Thời gian chậm trôi
>> 19b. Thời gian chậm trôi (Tiếp theo)
>> 20. "Vĩnh biệt, Odessa của tôi, Karantin vinh quang!"
“VĨNH BIỆT, ODESSA CỦA TÔI, KARANTIN VINH QUANG!”
Tôi vội về ngay khu Fontan bởi lẽ trời đã vào thu. Mùa thu thứ hai tôi sống ở Odessa.
Lúc đó tôi tin rằng (vâng, có lẽ bây giờ tôi sẵn sàng đồng ý về việc này), trong tất cả những mùa thu tôi đã từng trải qua thì mùa thu Odessa là một trong những mùa thu rực rỡ ánh hào quang nhất. Và không những ở trong khu đồng hoang và tại các biệt thự, trên khu Fontan với những vườn cây trụi lá của nó, mà cả ngay trong thành phố.
Sự mô tả chính xác mùa thu Odessa tôi tìm thấy trong các vần thơ (giờ đây tôi không còn nhớ đã đọc chúng ở đâu):
Bầu không khí mùa thu mong manh và nguy hiểm,
Một giai điệu khác, một trật tự khác của ngày đêm.
Và thành phố thân yêu vào thu thật đẹp sao
Và âm thanh của nó thêm trong trẻo biết bao…
Vào những buổi sáng mùi hoa đinh tử héo thơm nồng trên các đường phố còn chìm trong bóng tối. Nhưng cả trong các khu vườn, cả trên các bờ giậu, tôi không nhìn thấy một bông hoa đinh tử nào. Có lẽ đó không phải là hoa đinh tử tỏa hương, mà đơn giản chỉ là bóng mát buổi ban mai, hoặc chỉ là mặt đường vừa được tưới nước, hoặc, cuối cùng đó chỉ là làn gió nhẹ đưa. Nó thổi vào từ vùng biển trống. Nó bay đến từ ngọn hải đăng Fontan Lớn, luồn lách âm thầm qua những ruộng dưa, thu nhận mùi hương ngọt ngào từ thân cây cỏ úa, sau đó mới nặng nhọc xuyên qua những bụi cây rậm rạp của đại lộ Pháp quốc và lách mình dọc các bờ biển ngoại thành, nơi trên mái các túp lều của dân chài đang phơi những vỏ dưa hấu và những quả cà chua chín.
Tất cả những thứ đó làm cho gió có cái mùi mà tôi đang nói đến ở đây, mùi trong lành và tươi mát. Bầu không khí đúng là mong manh và nguy hiểm. Nhưng không phải vì không khí đó làm cho người ta dễ bị cảm cúm, mà vì sau khi đã hít thở nó thì không thể nào thoát được cái ước muốn sao cho cái mùa thu như thế này tồn tại mãi, không mất đi trên Odessa với giọng nói rì rào và tiếng cười nhẹ nhàng trên đường phố của nó.
Ở các thành phố miền nam người ta không e dè khi ra phố như ở miền bắc. Bởi vậy ở miền nam các đường phố có vẻ hồn hiên hơn và trữ tình hơn. Ở đó chúng dễ biến thành nơi để thể hiện lòng nhân hậu, tính hài hước và sự tò mò.
Tôi gọi mùa xuân Odessa là mùa thu rực rỡ ánh hào quang. Cái từ này tôi đã được nghe từ lúc bé (“những buổi chiều tối rực rỡ ánh hào quang” của Tiutchev), nhưng một thời gian khá lâu tôi không hiểu được ý nghĩa chính xác của nó.
Chỉ khi đến tuổi trưởng thành tôi mới biết rằng từ này nói đến ánh sáng chói ngời, thanh thản và không gì ngăn cản được của những tia nắng mặt trời, mà trước hết được dùng cho ánh sáng buổi chiều tối hoặc mùa thu.
Mùa thu Odessa rực rỡ ánh hào quang trong ý nghĩa đầy đủ của từ này. Ánh sáng màu hồng dịu êm phủ khắp phố phường. Cái ánh sáng hồng dịu êm này xuất phát không những chỉ từ đám khói thường trực trong bầu không khí, mà còn từ việc mặt trời mỗi lúc một chìm sâu xuống phía đường chân trời, ánh sáng của nó dần dần yếu đi và từ đầu buổi sáng đã được nhuộm sắc hồng của buổi hoàng hôn.
Nhưng chẳng bao lâu sau thì mùa thu trong vắt đã chuyển thành mù sương. Ánh sáng hao gầy đi. Khoảng thời gian u ám này trùng với sự đình bản của tạp chí “Người thủy thủ”.
Hội thủy thủ không còn đủ tiền để in tờ báo. Tất nhiên có thể kiếm được tiền – tờ báo được phổ cập rộng rãi khác thường. Điều bí mật nằm ở chỗ biên tập viên chính thức của tờ báo, thuyền trưởng đã giải nghệ Pokhodkin, một người đàn ông râu xám lúc nào cũng kêu ca về sự thiếu kiên quyết, cứ lo sợ cho tờ báo, như sợ mắc dịch, ông sợ chúng tôi, những cộng tác viên của ông, cố gắng bằng mọi cách thoát khỏi tờ báo và tìm mọi lí do để đóng cửa tờ báo.
Pokhodkin không thể nghĩ ra được điều gì tốt hơn việc tổ chức ngày giỗ của tờ báo tại biệt thự của ông ở Aradia vào dịp tờ báo đình bản.
Chúng tôi đến dự bữa tiệc nhỏ này trong tâm trạng bực tức, thần kinh bị kích động, với mục đích chủ tâm gây ra một vụ tai tiếng.
Để làm việc này chúng tôi cần có một chuyện va chạm bất kỳ, dù rất vớ vẩn nào đó. Và tất nhiên chúng tôi tìm được nó, mà hơn nữa nó chẳng phải là vớ vẩn.
Sự bực tức của chúng tôi đã tăng thêm khi chúng tôi vào ngôi biệt thự: trong tất cả các căn phòng đều khét mùi dầu hỏa tuy thoang thoảng nhưng độc hại.
Dường như thuyền trưởng Pokhodkin làm nghề úm gà con. Ông tự hào chỉ cho chúng tôi xem một dãy lồng ấp đặt trên gác sân ấm áp. Những chiếc đèn dầu hỏa dưới các lồng ấp này nổ tí tách và bốc mùi khét.
Tất cả chúng tôi, những người yêu biển, thích cuộc sống hải cảng, thích những con tàu biển, thích cái ma thuật của nghề đi biển, đã gặp phải cái thông tin về những chiếc lồng ấp và những con gà úm như gặp phải một sự xúc phạm đến nghề biển, xúc phạm đến niềm hy vọng của chúng tôi,
Thay vì lời chúc tụng chạm ly đầu tiên, Bagritsky đã hét lên những lời nói căm hờn chống lại các thủy thủ “cây đa cây đề” chống lại những tiểu thị dân, chống lại những người đã đi vào thế giới thối tha của những lồng ấp trứng, từ bỏ cái phóng khoáng của nghề biển, từ bỏ tiếng kêu vo vo của gió trong các dây chão căng cột buồm, giống như tiếng vo vo của khoảng không bên trong các vỏ ốc.
Lúc đó Zhenka Ivanov đứng bật dậy, làm đổ cả chiếc ghế và hét lên, bắn cả nước miếng ra vì phẫn nộ.
- Thưa các đồng chí! Con cáo mặc áo cổ cồn này (anh căm tức chỉ tay về phía thuyền trưởng Pokhodkin), cái bị thịt này đã đóng cửa tờ báo tuyệt vời của chúng ta. Để làm gì? Để cho hắn được yên thân ngồi bán mấy con gà úm còi cọc. Tôi cho rằng điều đó không những chỉ là một việc quái gỡ! Nó là một sự ô nhục phải bị trừng phạt! Bởi vậy tôi kêu gọi các bạn: hãy đập phá các lò ấp trứng! Đập tan tành hết đi! Cho nó tan ra thành khói! Thành bụi thuốc đạn! Tôi sẽ chịu trách nhiệm mọi việc!
Không thể giải thích việc trong vòng vài phút chúng tôi đã đập phá hết tất cả các lò ấp trứng chỉ là do chúng tôi say. Từ mấy cái đèn dầu hỏa muội đèn dầu tụ lại thành những cột đen. Thuyền trưởng Pokhodkin đấm thùm thụp vào ngực mình, bứt đứt tung những chiếc cúc vàng trên chiếc áo gi lê và hét lên với vẻ ăn năn:
- Đúng thế! Được lắm! Tôi vứt bỏ hết!
Vợ ông, một người thấp lùn, với các lọn tóc xoăn nhỏ màu hung hung, giữ tay chúng tôi, bẻ mấy ngón tay chúng tôi trong cơn giận dữ bất lực và nói thều thào bực tức:
- Quân lưu manh! Người chúng bay không thể khô ráo khi ra khỏi chỗ này đâu! Xẻo mũi chúng mày đi!
Không thể nào biết được sự việc điên rồ này sẽ kết thúc ra sao nếu không có sự can thiệp của biển. Ngôi biệt thự của viên thuyền trưởng nằm gần một bờ đá. Một cơn bão biển ập vào những tảng đá này vào buổi tối hôm đó. Và thế là tại một trong các tảng đá vang ra tiếng nổ ầm vang. Ngôi nhà rúng động và lắc lư, tất cả các tấm kính rơi xuống với tiếng loảng xoảng nhộn nhịp, và, viên thuyền trưởng, sau khi giơ hai tay lên trời, đã hét thật to:
- Im lặng nào! Đừng hốt hoảng! Một quả thủy lôi đã nổ cạnh tảng đá. Hay lắm! Đúng lắm! Mụ gà mái này, - ông đá chân vào bà vợ, - đã làm tôi nhũn như một cộng mì.
Sau tiếng nổ của quả thủy lôi chúng tôi lập tức ra về. Chúng tôi đi như chạy, cố làm sao tránh nhanh cho xa ngôi nhà thù nghịch này, một ngôi nhà trống toác vì kính đã bị vỡ hết và còn tràn ngập mùi dầu hỏa và bồ hóng.
Đến đầu mùa đông tôi chỉ còn lại một mình trên phố Hắc hải. Lúc thời tiết còn là mùa thu khô ráo thì trong căn nhà của người quét vườn còn ấm áp và thậm chí còn dễ chịu, nhưng khi có những trận mưa lớn đầu tiên cả căn nhà ẩm ướt, giống như một chiếc bọt biển vắt qua loa. Trên các bức tường của căn phòng những vệt nước đục chảy thành dòng. Mùi vữa và vôi bốc lên, và từ đâu ra chẳng biết hàng đám những con nhện quặt quẹo hầu như bất động bắt đầu bò ra.
Đã đến lúc cần tìm một chỗ ở khô ráo hơn. Nhưng đi đâu bây giờ? Cô nhân viên đánh máy Liusena của tòa báo “Người thủy thủ” đã cứu tôi. Sau khi tòa báo đóng cửa cô đã chuyển sang hợp tác xã nghệ thuật, tại đó cô may những chiếc mũ phụ nữ bằng vải gai. Hợp tác xã làm đủ thứ việc tùy thích, chỉ cần người ta bỏ tiền để mua: sản xuất mũ, đồ gỗ thủ công, bật lửa, may nịt vú phụ nữ, vẽ những rèm cửa cho các công sở và những biển quảng cáo trên gỗ dán cho các rạp chiếu phim, chế tạo một chất bột bí hiểm có thể thay thế hoàn toàn cho men làm bánh mì.
Hợp tác xã làm việc tại tầng một của một cửa hàng bán váy may sẵn trước đây, có tên là “Alypvang và Công ty”. Tầng hai của cửa hàng, nơi trước kia là các phòng đo và cắt vải, hiện nay để trống và lạnh lẽo.
Liusena khuyên tôi cứ đến ở trên tầng hai không cần xin phép ai cả. Hợp tác xã không phản đối việc này: nếu trong cửa hàng có người nào đó ngủ qua đêm thì càng đỡ lo bọn trộm dòm ngó.
Ở Alypvang thì không bị ẩm ướt, nhưng lạnh như ở ngoài đường phố. Mà mùa đông năm đó đã bắt đầu với những đợt gió mùa băng giá rất mạnh. Thành phố đóng băng nhanh chóng, và mỗi buổi sáng thành phố bị một lớp tuyết dày phủ kín.
Tôi chuyển nơi ở đến Alypvang. Căn phòng của người quét sân tôi khóa lại và chìa khóa tôi mang theo mình – chờ đến mùa xuân, đến những ngày ấm áp đầu tiên.
Trong phòng đo cắt tôi lắp vào lỗ thông gió cái lò sưởi “burzhuika” tận tụy của mình. Ngủ thì tôi nằm trên một tấm cửa kính rộng, dở xuống từ một cánh cửa quay. Tôi đặt nó trên mấy cái thùng đựng dăm bào. Tấm đệm cứ tuột khỏi mặt kính vài lần mỗi đêm, và tôi cũng rơi rơi xuống mặt sàn đá cùng với tấm đệm.
Sau khi tờ báo “Người thuỷ thủ” đình bản tôi bắt đầu làm việc ở báo “Cỗ máy”. Về giai đoạn này trong ký ức của tôi chỉ còn lưu lại hình ảnh một toà soạn ẩm thấp, tối om như dưới tầng hầm và về rất nhiều cậu bé chạy giấy hầu như chẳng có việc gì để làm. Biên tập viên tốt bụng của tờ báo tên là Kurs (ông làm ra vẽ giống như một vị chính uỷ kiên định và sắt đá), ông nhận tất cả những cậu bé này vào biên chế và cấp phát cho tất cả bọn chúng những tem phiếu bánh mì.
Vì không có việc gì làm nên suốt ngày các cậu bé đó chơi cờ ca rô và chơi bài “tiên lên”. Nhưng mặc dù vậy lúc nào chúng cũng kêu đói.
Vâng, mùa đông thật khắc nghiệt. Bể cảng đóng băng. Bên ngoài cột hải đăng chiếc tàu thuỷ Bungari neo đậu giữa tảng băng, nó chở mặt hàng dầu ôliu đến Odesa. Dầu ôliu cũng đông cứng thành đá.
Không có những chiếc tàu thuỷ của nước mình. Từ bãi tàu hư hỏng người ta đưa đến các xưởng sửa chữa tàu hai chiếc tàu cũ và bắt đầu phục hồi chúng. Một chiếc mang tên “Dimitry”, chiếc kia là “Vestel”.
Muốn hình dung công việc đó như thế nào có thể nhìn vào một việc như: để sửa chữa tàu “Dimitry” cần dập ba trăm chiếc đinh ri vê, nhưng trong suốt hai tháng ở Odessa không tìm ra được một chiếc đinh ri vê nào. Về việc này trong tờ báo “Cỗ máy” đã đăng chữ đậm bức thư gửi đến toà soạn báo của một công nhân sửa chữa tàu dưới tiêu đề oán trách: “Không, các đồng chí ơi, chúng ta không đạt đến hạnh phúc như thế này được đâu!”.
Trong đầu tôi xuất hiện một cảm giác khá rõ ràng là cuộc sống ở Odesa đã đi đến tận cùng. Cảm giác này tôi từng có một vài lần trong đời và nó không bao giờ sai, - có nghĩa là cần phải đi đến nơi khác. Nhưng không có khả năng nào để thực hiện việc này: không có tiền, không có các chuyến đi công tác.
Có lần, vào một ngày đông thê lương và xám xịt, Izia Livshits chạy xộc vào toà soạn báo “Cỗ máy” bên cạnh mấy cậu bé đang say mê chơi bài tây cạnh chiếc lò sưởi nhỏ bằng gang. Anh ấy hét lớn, rằng tờ báo “Người thuỷ thủ” được phục hồi và sau một tuần sẽ phát hành số đầu tiên.
Dường như những cựu thuỷ thủ - những đảng viên bolshevich và những người hoạt động bí mật đã đạt được thoả thuận về phục hồi tờ báo.
Việc này xảy ra sau một số sự kiện đáng ngạc nhiên.
Zhenka Ivanov buồn nhớ vì sự thiếu vắng tờ “Người thuỷ thủ” đến mức nằm yên một chỗ suốt hai tháng và thậm chí từ chối chuyện trò.
Bà Marina phải cố hết sức để lo cái ăn cho ông và mấy cô con gái. “Đúng là người mắc bệnh tâm thần! – bà nói về ông chồng, nhưng những giọt nước mắt tự hào về ông ngay lập tức xuất hiện trong cặp mắt đen của bà. – Các anh thử tìm xem có người dở hơi thứ hai trên thế giới như thế không. Các anh có biết ông ấy nói gì không? “Những tờ báo như tờ “Người thuỷ thủ” của chúng tôi không thể nào chết được”.
Chúng tôi vui sướng ôm hôn Izia. Biên tập viên Kurs vui như phát khùng lên, từ trong văn phòng của mình chạy ra hành lang. Mấy cậu bé chạy tán loạn.
Kurs hét to lên rằng không để cho tôi đi, rằng đó là sự phá hoại, hành động thù địch, sự chơi khăm và, cuối cùng, là phản cách mạng. Đáp lại tôi và Izia chỉ cười trừ. Kurs vẫy tay và chịu thua.
Nhiều lần tôi đã nhận thấy rằng điều may mắn không lặp lại. Nếu cứ bắt buộc phải chờ đợi điều may mắn, thì lẽ đương nhiên mỗi lần như vậy sẽ giống như một sự cam chịu. Nhưng con người được tạo ra không hoàn chỉnh đến mức dù thế nào đi nữa anh ta cứ chờ đợi sự lặp lại những điều may mắn, chờ đợi sự hồi sinh cái quá khứ của riêng mình, cái quá khứ được thời gian làm cho êm ái hơn, làm cho anh ta cảm thấy quyến rũ và phi thường.
Tôi trở lại với tờ báo “Người thuỷ thủ”. Nhưng nó đã khác trước, có cái gì đó đã thay đổi. Tôi không thể nào nhận ra ngay được sự thay đổi đó, nhưng tờ báo đã khô khan hơn, còn cuộc sống của toà soạn – có một chút gì đó tẻ nhạt hơn.
Bởi vậy tôi thấy thật hạnh phúc khi Ivanov cử tôi đi công tác với danh nghĩa phóng viên của báo “Người thuỷ thủ” đến tất cả các cảng của Hắc hải, từ Odesa đến Batumi. Vấn đề là ở chỗ ở đâu đó người ta đã tìm được bảy trăm chiếc đinh ri vê, con tàu “Dimitry” cuối cùng đã được xuất xưởng và người ta đưa nó sang bờ biển Kavkaz. Đó là hành trình đầu tiên của chiếc tàu biển duy nhất của Liên xô đi từ Odessa đến Batumi, qua tất cả những địa điểm vừa mới quét sạch quân bạch vệ cách đây không lâu.
“Dimitry” chở thuỷ lôi, vài thứ hàng hoá nào đấy cho Krime và cho các thuỷ thủ, có thể nó sẽ chấn chỉnh công việc ở các cảng vừa bị tàn phá và trải qua nạn đói.
Ngoài ra “Dimitry” còn chở một số hành khách và gần hai trăm bao muối đến Krime. Thời kỳ đó chẳng ai ngạc nhiên về điều này.
“Dimitry” rời bến ở Odesa vào những ngày đầu tiên của tháng giệng.
Rốt cuộc thì Odessa đã chỉ cho tôi thấy một quang cảnh ngoạn mục, vị tất có thể có ở một thành phố khác. Tôi đang nói đến đám tang của “nhạc sĩ-Sashka” nỗi tiếng, đã được Kuprin mô tả một cách tuyệt vời trong tác phẩm “Gambrinusa” của ông.
Tại Odessa tôi đã quen với việc đọc lướt qua trong các tờ báo mọi thứ, cho đến cả những bài quảng cáo. Không bao giờ có thể biết được những hạt ngọc trai kiểu Odessa có thể tìm thấy ở đâu.
Tôi còn nhớ tôi đã bị bàng hoàng khi đọc một tin cáo phó bởi cái nội dung và cách sắp chữ khéo léo của nó. Nó được trình bày như thế này:
Cây sồi KHAIM BOLF SEREBUANY đã đổ sập
Và những cành cây côi cút đang nghiêng thấp trong nỗi buồn đau nặng trĩu.
Thi hài sẽ được mai táng tại nghĩa trang do thái số 2 vào ngày giờ nào đó.
Đó là một tin cáo phó rất giàu hình ảnh. Người đọc có thể hình dung khá rõ “cây sồi vạm vỡ” này, một người phu khuân vác hoặc công nhân bốc dỡ trong cảng – Khaim Serebriany, đã quen ăn bữa sáng bằng cả lạng mỡ, một “hộp” bơ và nửa chai rượu vodka. Nhưng những “cành cây côi cút” này – những người con trai và con gái của Khaim vạm vỡ làm mọi người xúc động một cách đặc biệt.
Và rồi có một lần trong tờ báo “Tin tức Odessa” đã đăng tin cáo phó về sự qua đời của Aron Moiseevich Goldshtein. Dường như người quá cố có tên đúng như thế. Tôi không nhớ chính xác lắm. Không ai chú ý đến bản cáo phó này nếu như phía dưới cái họ “Goldshtein” không in trong dấu ngoặc: “nhạc sĩ-Saska” từ “Gambrinus”.
Cho đến tận bây giờ tôi vẫn khẳng định rằng hầu hết những nhân vật trong văn học đều là giả tưởng. Cuộc đời và văn học không bao giờ hòa trộn vào nhau hoàn toàn. Bởi vậy bản cáo phó về sự qua đời của nhạc sĩ-Sashka đã làm tôi nghi ngờ.
Tôi đã đọc truyện “Gambrinus”. Mọi thứ trong truyện ngắn này đều chính xác, như một bản báo cáo, và đồng thời truyện ngắn đầy tính nhân văn, cảm động đến chảy nước mắt và ngoạn mục như một tối mùa hè trên phố Debibasbskaia.
Cái gì đã mang lại cho truyện ngắn này cái tính chất mà tôi chưa từng biết đó, như được gọi – tính chân thật của nghệ thuật hoặc sự nhạy cảm cao thượng? Tất nhiên, sự nhạy cảm cao thượng và tính nhân văn của Kuprin đã truyền vào truyện ngắn này những hình dáng của một nền nghệ thuật vĩ đại.
Tôi khó lòng tin được rằng nhạc sĩ-Sashka, người mà ngay từ lúc còn bé đã là một nhân vật văn học kỳ cựu đối với tôi, thực tế lại đã sống ngay bên cạnh, trên căn gác sát mái của một ngôi nhà cũ kỹ của Odessa,
Tôi đã gặp may. Tôi đã nhìn thấy chương cuối nguyên bản của truyện ngắn “Gambrinus” – đám tang của nhạc sĩ-Sashka. Chương này được chính cuộc sống viết trọn vẹn thay cho Kuprin.
Cả thành phố Odessa của những người công nhân, của những người làm việc ở cảng và của dân ngoại ô đã đưa tiễn nhạc sĩ-Sashka đến nghĩa trang.
Mấy con ngựa còm nhom, thường hay đứng lại để nghỉ ngơi và thở rít lên trong khí quản, kéo chiếc xe đen chở quan tài. Mỗi lần như vậy đám người lại kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi ngựa nghỉ ngơi xong. Sau khi nghỉ ngơi, không cần người xà ích tóc bạc phải thúc giục, chúng lại chui vào đai choàng qua cổ và, cúi đầu xuống thấp, kéo chiếc quan tài đi tiếp. Mấy giọt nước mắt mờ đục của tuổi già long lanh trên đôi mắt đẹp của những con ngựa khổ sở này.
Đi bên cạnh tôi là ông già Lovengard, phóng viên báo “Người thủy thủ”. Đưa mắt nhìn mấy con ngựa kéo xe tang, ông nhớ lại là nhạc sĩ Sashka thỉnh thoảng có chơi bản tình ca di gan cổ “Đôi ngựa hồng được thắng vào cổ xe từ sáng tinh mơ”, còn cô ca sĩ đường phố có tên là Marafet thì hát bài đó cảm động đến mức làm cho một số người nghe “Gambrinus” khóc thổn thức.
Người xà ích già rít một thuốc hơi thuốc lào và khéo léo nhổ nước bọt xuống mặt đường. Chiếc mũ cát két nhàu nhĩ lệch xuống che kín một bên mắt cụ. Bằng tất cả bộ dạng của mình cụ già đã chứng minh rằng cuộc đời đã không còn như khi Sasha còn sống. “Cuộc sống gì vậy, khi mà để đóng móng cho mấy con ngựa khốn khổ này phải bỏ ra đến gần một triệu rúp! Trước đây một triệu rúp có thể mua được toàn bộ khu Máy xay Blizhny với tất cả các trại chăn nuôi, vườn mơ, vườn củ cải đỏ và đàn ngựa của nó!”.
Một đoàn người đông đúc đi sau quan tài. Lạch bà lạch bạch, các bà già quàng khăn ấm đang lê bước – đó là những người biết rõ về Sasha khi các cụ còn là những người đẹp nhanh nhẹn. Trong đoàn người hầu như không có những phụ nữ trẻ.
Mấy bà phụ nữ đi ngay sau quan tài, phía trước đám đàn ông. Theo thông lệ về sự lịch lãm của dân nghèo Odessa (Đối với các bạn đây là Odessa, chứ không phải Vinnitsa nhút nhát nào đó”) phụ nữ lúc nào cũng được đưa lên phía trước. Đi sau mấy bà phụ nữ là những người đồng chí mặt mày xanh xao vì đói của nhạc sĩ – Sashka.
Cạnh lối vào nghĩa trang “Gambrinus” tang thương đoàn người dừng lại. Các nhạc công lấy nhạc cụ từ trong những chiếc áo bành tô xài xạc ra, và một giai điệu thê lương và bất ngờ của một bản tình ca cổ vang lên trên đoàn người chết lặng:
Không phải dành cho tôi cái mùa xuân sẽ đến,
Không phải dành cho tôi Bug nổi trận lôi đình…
Những người đứng trong đám đông bắt đầu bỏ mũ xuống, xì mũi, ho và lau nước mắt. Tiếp theo có một người nào đó hét lên bằng cái giọng khàn khàn và vui vẻ khác thường:
- Và bây giờ dành cho Sashkin! Một bản nhạc vui!
Các nhạc công quay lại, gật đầu với nhau, gõ mạnh hòa âm, và trên đường vang lên âm thanh cuồn cuộn, vui nhộn:
Vĩnh biệt, Odessa của tôi,
Karantin vinh quang!
Ngày mai họ sẽ đuổi chúng ta
Ra đảo Sakhalin!
Tôi nhìn đám người. Đó là tất cả những cựu dân “Gambrinus”: thủy thủ, dân chài, dân buôn, thợ đốt lò, công nhân, phu khuân vác và công nhân bốc xếp – một thế hệ Odessa vô tư vui vẻ, vững vàng. Giờ đây điều gì đã xảy ra cho họ? “Cuộc sống đã làm cho chúng tôi quá điêu đứng”, - những người đứng tuổi làm nghề biển nhẫn nhục thừa nhận. “Vâng có thể nói cuộc sống không thể nào tồi tệ hơn. Cần phải nhẫn nhục để mà sống, lao từ trên bờ xuống hầm tàu, như một kiện hàng nặng năm pud. Và cứ thế mà lao xuống, còn hạnh phúc thì đang vẫn hiếm hoi quá. Thậm chí không chờ đợi nó được – sự bất hạnh thì cứ nhiều thêm. Đấy, cả Sasha cũng đang nằm trong quan tài, nhợt nhạt, khô quắt, như một con khỉ! Còn hạnh phúc sẽ đến cho lớp trẻ. Như người ta bảo, bánh lái đang nằm trong tay họ. Hãy để cho họ sống thoải mái và vô tư. Để đi đến cuộc sống thoải mái đó chúng ta cũng già đi khá nhiều”.
Lovengard thận trọng nắm khuỷu tay tôi và bảo:
- Tôi là người đầu tiên đưa Aleksandr Ivanovich Kuprin đến “Gambrinus”. Ông ấy ngồi, nheo nheo đôi mắt như mắt người Mông cổ, uống rượu và pha trò. Thế rồi sau một năm truyện ngắn này đã ra đời. Tôi đã khóc cho ông ấy, anh bạn trẻ ạ. Đây là một kiệt tác của tình yêu đối với con người, một viên ngọc bích giữa đống rác đời thường.
Tôi chưa biết rằng Lovengard quen biết với Kuprin, nhưng từ đó trở đi lúc nào tôi cũng có cảm giác là Kuprin chưa kịp viết về Lovengard.
Niềm đam mê duy nhất của ông già cô đơn đỗ đốn này là cảng Odessa. Người ta sắp xếp cho ông việc làm có thu nhập khá trong các tờ báo, nhưng ông luôn luôn từ chối và chỉ gắn bó với cảng Odessa.
Từ sáng sớm cho đến lúc mặt trời lặn, bất kỳ mùa nào trong năm và trong bất cứ thời tiết nào ông cũng từ từ đi quanh các khu cảng, leo lên những chiếc tàu thủy và hỏi han các thủy thủ về mọi chi tiết của các chuyến đi biển. Ông nói thông thạo một số ngôn ngữ, thậm chí cả tiếng Hy lạp mới. Với sự lịch thiệp tinh tế như nhau ông đàm đạo với các thuyền trưởng và những kẻ quần manh áo rách trong cảng. Khi nói chuyện trước mặt họ ông luôn bỏ chiếc mũ cũ kỹ trên đầu xuống.
Trong cảng người ta gọi ông là “Sử gia”. Mặc cho thân hình lỗi mốt của ông có vẻ kỳ dị giữa đám cư dân ăn nói sỗ sàng của khu cảng, nhưng người ta không bao giờ đụng chạm đến ông và không xúc phạm ông. Đây cũng là một dạng của nhạc sĩ Sashka đối với các thủy thủ.
TÂM TƯ BẠN ĐỌC: CUỘC CHƠI NGHỊ LỰC - Trịnh Anh Vinh
chauphanbach | 01 May, 2012 11:00
CUỘC CHƠI NGHỊ LỰC
(Tặng dịch giả Phan Bạch Châu)
Thất thập e thừa dăm bảy xuân
Đường đời tóc nhuộm trắng phong trần
Trái tim đồng cảm không biên giới
Bác dịch sách người bằng chữ tâm.
Pau-tốp-sky viết "Chuyện đời"
Hỏi đâu chân lý, đâu tình người
Bạn đọc dù Nga hay nước Việt
Trang sử vui buồn - thế thời thôi.
Ai bảo Ông, là một cuộc chơi
Cuộc chơi nghị lực tuổi bảy mươi
Ngày làm khoa học, đêm dịch sách
Mấy áng văn chương để lại đời.
Trịnh Anh Vinh
TÂM TƯ BẠN ĐỌC: CHUYỆN ĐỜI - Nguyễn Công Hiển
chauphanbach | 01 May, 2012 10:45
TÂM TƯ BẠN ĐỌC: CẢM XÚC ĐỌC CHUYỆN ĐỜI - Nguyễn Đức Phùng
chauphanbach | 01 May, 2012 10:25
TÂM TƯ BẠN ĐỌC: SÁCH LÀ KHO TRI THỨC VÔ GIÁ CỦA NHÂN LOẠI - Nguyễn Trí Trái
chauphanbach | 01 May, 2012 10:15
TÂM TƯ BẠN ĐỌC:
| Nhân dịp Câu lạc bộ “BẠN & THƠ” họp mặt ngày 28/4/2012 chào mừng các ngày lễ lớn, bạn bè trong câu lạc bộ đã có những bài thơ, bài viết ghi lại cảm nhận khi đọc ba tập trong bộ sách CHUYỆN ĐỜI của Paustovsky do Phan Bạch Châu chuyển ngữ. Dịch giả chân thành cám ơn các bạn bè, thi hữu và tất cả bạn đọc đã mặn mà với tác phẩm và ưu ái dành những lời đánh giá, góp ý với bản dịch. Dưới đây xin ghi lại những bài viết của các bạn đã tặng dịch giả nhân cuộc họp mặt ngày 28/4 vừa qua. |
BÀI NÓI CỦA BÁC NGUYỄN TRÍ TRÁI:
Thưa toàn thể các bạn,
Thưa dịch giả, tiến sĩ Phan Bạch Châu thân mến.
Trước hết tôi hoan nghênh sáng kiến của anh Nguyễn Công Hiển, hội viên CLB Bạn & Thơ đã đề xuất tổ chức cuộc họp mặt thân mật hôm nay nhằm mục đích cám ơn anh Phan Bạch Châu, một nhà khoa học ngành giao thông, nghỉ hưu, tuổi đã cao, đang ở ngưỡng cuối cùng của cuộc đời, mặc dù đã có lúc tai biến, nhưng nghị lực và bản lĩnh vẫn luôn sôi sục trong anh với niềm đam mê bất tận nghiên cứu, tìm tòi sáng tác thơ và dịch nhiều tác phẩm văn học Nga.
Bản thân tôi cùng CLB bạn đọc Khu dân cư số 1, phường Kim Giang đã nhận được nhiều ấn phẩm thơ, văn, tạp chí của anh Châu tặng. Chúng tôi cũng đã mời anh Châu tới thăm CLB và trực tiếp trao tặng phẩm cho từng hội viên. Cảm động trước thịnh tình của anh Châu, hội viên CLB bạn đọc khu dân cư số 1 thông qua tôi xin gửi tới tiến sĩ Châu lời cám ơn chân thành nhất và chúc anh Châu giữ tốt sức khỏe để tiếp tục vô tư cống hiến cho đời những ấn phẩm văn hóa có chất lượng mà nhiều người cùng điều kiện và hoàn cảnh như anh Châu nhưng không làm được.
Thưa anh Châu và toàn thể các bạn,
Nhiều lần nhận được điện thoại của anh Châu mời đến tận nhà nhận tặng phẩm tôi rất cảm động về tấm lòng nhiệt tình vô tư của anh. Cho tới nay tôi đã nhận được 8 ấn phẩm thơ, văn anh Châu tặng, chưa kể các số tạp chí “Biển & Bờ”, “Văn Việt” mà anh Châu tham gia biên tập hay viết bài. Gần đây nhất là 3 tập “Chuyện đời” của nhà văn Nga Konstantin Paustovsky – tổng cộng 1066 trang – giấy tốt, bìa trình bày rất đẹp.
Cách đây vài tuần anh Nguyễn Công Hiển điện thoại hỏi tôi đã đọc hết chưa và trao đổi với tôi việc tổ chức cuộc họp mặt thân mật hôm nay. Tôi giật mình, cảm thấy rất có lỗi với người có công dịch, in ấn và tặng. Một hôm CLB bạn đọc của tôi ngỏ ý muốn mời dịch giả Phan Bạch Châu ra thăm và giới thiệu nội dung chủ yếu của tác phẩm. Nhưng anh Châu trả lời cứ xem rồi sẽ tự hiểu. Và sau khi anh Hiển nhắc tôi mới đem ra đọc. Thú thực với anh Châu và các bạn là gần đây do tuổi cao, mắt kém, trí nhớ của tôi giảm hẵn, đôi lúc quên cả cái không đáng quên. Kính tôi đang đeo trên mắt mà cứ đi tìm khắp mọi chỗ, cuối cùng ngồi thừ ra để nghĩ xem dùng kính lúc nào, để ở đâu, rồi tự nhiên đưa tay lên mắt gỡ kính - Ối giời ơi! Kính đây rồi! – làm cho bà xã và hàng xóm cười như nắc nẻ. Đấy, chính vì vậy mà sách tôi nhận tặng, đem về, giở ra đọc rồi lại quên ngay.
Cũng từ ngày anh Hiển nhắc, tôi lại đem 3 tập “Chuyện đời” ra ngó lại. Mặc dù đôi lúc mắt đã mờ và đọc chưa hết, mới chỉ xem tập 1 nhưng tôi thấy hay quá. Hồi ký của một nhà văn – nói về chuyện đời – về cá nhân, gia đình, xã hội nhưng đầy tính nhân văn, tính giáo dục. Đọc mỗi phần đều có những dấu ấn khiến độc giả phải suy nghĩ về những hoài bão, ước mơ, khát vọng trong cuộc sống của con người mà tác giả đã khắc họa trong tác phẩm.
Theo cảm nghĩ của tôi về tác phẩm “Chuyện đời”, dịch giả Phan Bạch Châu đã có tài đưa được cái hồn của tác phẩm chuyển ngữ qua tiếng Việt. Mặc dù hoạt động trong lĩnh vực khoa học – kỹ thuật nhưng dịch giả Phan Bạch Châu – con người đa tài – có lẽ là bẩm sinh, đã chuyển thể ngôn ngữ một nước châu Âu – khác hẵn nền văn hóa của Việt Nam, mà đọc cứ tưởng như tác phẩm của Việt Nam. Đặc biệt những từ ngữ, cụm từ như: “ngồi hút thuốc lào”, “tối như hũ nút”, “vắt mũi chưa sạch”, “cái chi rứa?”… ai nói không phải là văn Việt Nam.
Đọc “Chuyện đời” tập 1 gồm 415 trang, với 39 nội dung mà tác giả đã sắp đặt, từ gia đình, sự việc, cảnh vật, thiên nhiên, cuộc sống xã hội Nga thế kỷ 20. Mở trang đầu đọc phần “Vài suy nghĩ tản mạn” thay lời tựa tôi thấy được tâm trạng hừng hực của nhà văn muốn đi sâu tìm tòi, chiêm nghiệm, phát hiện, sàng lọc để vắt ra những tác phẩm hiện thực của cuộc sống. Tác giả rất trân trọng những nhân vật để tác phẩm của mình đến được với quãng đại quần chúng, in đậm dấu ấn trong lòng độc giả. Tôi rất tâm đắc đoạn văn sau:
“Một con người càng hiểu biết nhiều thì anh ta càng tiếp nhận hiện thực đầy đủ hơn…
Ngược lại, sự dốt nát làm cho con người lãnh đạm với thế giới, còn sự lãnh đạm thì phát triển chậm chạp, nhưng không vãn hồi được, như một khối u ác tính. Cuộc sống trong nhận thức của người lãnh đạm chóng héo úa, xám ngắt, các mạch sống lớn lao cứ chết dần, và cuối cùng con người lãnh đạm trở nên cô đơn với sự dốt nát và cuộc sống đầy đủ thảm hại của mình”.
Trang 408, bài “Một liều nhỏ độc dược” miêu tả cuộc đối thoại của ông chủ hiệu thuốc với cậu thanh niên về thời luận khiến tôi rất tâm đắc. Tác giả đã có bộ óc, đôi mắt, vành tai quan sát mọi hiện tượng rất tinh tế dù nhỏ nhất để có những lời thoại mà tôi đọc đi đọc lại rất thích thú:
“- Dường như anh chẳng phải suy nghĩ về việc gì! – Lazar Borisovich thốt lên với giọng bực mình. - Đấy anh bắt đầu sống. Đúng không! Rồi đây anh sẽ làm nghề gì, cho phép tôi được tò mò một chút? Và anh dự định sẽ tồn tại như thế nào? Chẳng lẽ anh cứ lúc nào cũng vui vẻ, cười đùa và thoái thác những vấn đề khó khăn? Cuộc sống – không phải là một kỳ nghỉ ngơi đâu, anh bạn trẻ ạ. Không! Tôi tiên đoán với anh rằng – chúng ta đang đứng trước những sự kiện trọng đại. Vâng! Tôi cam đoan với anh về việc này. Dù Nikolai Grigorievich cười nhạo tôi, nhưng cứ chờ xem ai đúng. Thế đấy, tôi đang quan tâm đến việc anh sẽ làm nghề gì?
- Tôi muốn… - tôi bắt đầu.
- Quẳng hết đi! – Lazar Borisovich hét to. – Anh sẽ nói với tôi điều gì? Rằng anh muốn thành kỹ sư, bác sĩ, nhà bác học hoặc còn là ai ai nữa. Điều đó chẳng quan trọng.
- Thế cái gì mới quan trọng?
- Sự cô-ông bă-ằng! – Ông hét thật to. – Cần đến với nhân dân. Và vì nhân dân. Anh cứ muốn thành người gì cũng được, cả việc thành một nha sĩ, nhưng hãy tranh đấu vì một cuộc sống tốt đẹp cho con người. Phải vậy không?”
Thưa dịch giả Phan Bạch Châu!
Thưa các bạn!
Tôi phát biểu đã hơi dài. Tôi xin phép dừng lại ở đây và chỉ xin kết luận một câu:
Nhân ngày 23/4 là ngày đọc sách của cả thế giới, và nhân buổi họp mặt thân mật hôm nay, tôi nghĩ: Sách là kho tri thức vô giá của nhân loại, mặc dù tôi và một số bác tuổi đã cao, mắt kém, việc đọc sách cũng hạn chế - nhưng qua đọc một phần tác phẩm “Chuyện đời” tôi thấy ta nên cố gắng dành thời gian tìm hiểu và đọc. Xin mời các bạn đến thăm CLB bạn đọc Khu dân cư số 1 – ngõ 3 phố Hoàng Đạo Thành vào các buổi chiều thứ 3 và thứ 7 hàng tuần. Chúng tôi có khá nhiều đầu sách chính trị, kinh tế, quân sự, văn học nghệ thuật, pháp luật, tâm linh, đời sống, sức khỏe phục vụ các bác mượn về nhà đoc.
Xin cám ơn!
Nguyễn Trí Trái
THỜI GIAN CHẬM TRÔI - Paustovsky K.
chauphanbach | 30 April, 2012 14:35
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
>> 19a. Thời gian chậm trôi
>> 19b. Thời gian chậm trôi (Tiếp theo)
THỜI GIAN CHẬM TRÔI
Vào tháng tám tôi được nghỉ phép ở báo “Người thủy thủ” và quyết định đi nghỉ ở Ovidiopol.
Thành phố thảo nguyên này nằm trên bờ vịnh Dnestrovsky, chìm trong trạng thái ngủ mê của vùng quê, được cho là nơi đầy ải và qua đời của nhà thơ vĩ đại Ovidia Nazon của La mã.
Thực ra thì nơi qua đời của Ovidia nằm ở vùng phía nam xa hơn nhiều, cạnh cửa sông Danuip, trong một làng của những người tù khổ sai La mã. Trước khi qua đời ông than phiền về thời tiết lạnh lẽo ở Skif và về biển Hắc hải đầy bão tố và buồn chán.
Tôi không hiểu được tại sao Ovidia có thể coi Hắc hải là buồn chán. Đây là một trong những vùng biển vui vẻ và rạng ngời nhất. Và có thể nói về cái lạnh nào đây của Skif, nơi không phải mùa đông nào cũng đều có tuyết? Còn nếu tuyết có rơi thì nó chỉ tồn tại được vài ngày, sau đó tan hết, và mặt đất sau khi tuyết tan bốc lên thoảng thoảng mùi của mùa xuân.
Vào cái năm 1921 đó mùa thu nóng và khô hạn cực độ. Đi bộ đến Ovidiopol thật khó khăn – không những vì nóng, mà còn vì bụi bay mù mịt. Bụi cuồn cuộn thành những vòi rồng với tiếng động rào rào dọc các con đường. Vì đám bụi không lúc nào hết này mà người đi đường lập tức biến thành màu nâu, trông như người Kafir[1].
Vì lí do đó tôi không đi đường bộ đến vịnh Dnestrovsky, mà quyết định đi dọc theo bờ biển, qua các vùng Fontan hoang vắng đến ga tàu điện cuối cùng. Ga này có tên là “Biệt thự Kovalevsky”. Tôi có thói quen không bao giờ đi theo kiểu tù mù, tôi đã tìm được quyển “Odessa cổ” và đọc trong đó tất cả những thông tin liên quan đến biệt thự Kovalevsky.
Tôi làm việc đó với quan niệm rằng thậm chí một chút hiểu biết trước về những nơi chúng ta định đến cũng buộc chúng ta phải chú ý nhiều hơn khi tiếp xúc với nó, so với khi ta chưa biết tí gì về nó.
Đọc quyển “Odessa cổ” tôi biết được có một ông nhà giàu Odessa cô đơn nào đó đã mua một mảnh đất hoang khô cằn ven biển và xây dựng trên biển một ngôi nhà và bên cạnh ngôi nhà – một tháp tròn cao, trông giống như một ngọn hải đăng. Tháp này chẳng dùng vào việc gì cả. Kovalevsky đã xây dựng tháp, như người ta bảo, chỉ “để mà xây”, vì một ý muốn kỳ quặc. Có vài lần ông ngồi uống trà trên sân thượng của ngọn tháp này, rồi sau đó rơi từ trên tháp xuống và tử nạn.
Ngôi nhà nhanh chóng trở thành đống hoang tàn. Không ai muốn mua công trình đồ sộ và u ám này, rồi ngọn tháp được lưu lại và nhắc đến trong tất cả các sổ tay hàng hải để chạy tàu qua Hắc hải. Dường như ngọn tháp này là một vật định hướng tốt khi vào Odesa. Vì vậy tháp được người ta bảo vệ và không cho phép biến thành đống đá vụn.
Tôi biết rằng bên cạnh tháp Kovalevsky có một số biệt thự bỏ hoang, và quyết định sẽ đến ở trong biệt thự nào mà mình thích nhất.
Tôi đi bộ từ Odessa đến biệt thự Kovalevsky khá chậm và lâu. Tôi rời phố Hắc hải lúc trời vừa sáng.
Mặc dù trên đường không hề xảy ra điều gì, nhưng tôi ghi nhớ con đường từ thành phố đến biệt thự Kovalevsky một cách chi tiết đến mức sau này trong bất kỳ ngày nào và giờ nào tôi cũng có thể lần theo con đường đó từng bước một.
Tôi thích con đường này và đã nhiều lần sau đó trong những năm khác nhau tôi tìm cách đi bộ từ Odessa đến đó, mặc dù đã có tàu điện, xe buýt và cả taxi vừa chạy vừa tung bụi mù mịt.
Toàn bộ sự kỳ diệu của con đường này, toàn bộ sự quyến rũ của nó đối với tôi nằm ở chỗ sự cận kề với biển. Không có đoạn nào con đường đi tách khỏi bờ dốc quá xa đến mức không còn nghe thấy tiếng sóng biển và mùi rong rêu.
Chỉ cần tôi cúi người xuống, cầm một hòn đá trắng trên đường lên tay, thổi bụi bám trên đó, là không cần nhìn cũng có thể nói được nó là hòn cuội cát kết biển bị nóng lên do nhiệt độ oi bức giữa trưa, và cảm cảm thấy buồn bực vì không thể mô tả lại cuộc đời của viên đá này, một cuộc đời kéo dài hàng ngàn năm.
Mọi thứ trên con đường này đều có mùi biển và mùi nắng, thậm chí cả những chiếc thùng rỗng, trong đó vào những thời xa xưa nào đó người ta dùng để bán nước giải khát có men. Lớp sơn trên những chiếc thùng này đã nứt nẻ, bong tróc thành nhiều mảnh mỏng và có mùi khét nắng. Một quầy hàng bằng những tấm kẽm bỏ hoang bị phủ phấn hoa màu xanh phơn phớt của cây rau muối và cỏ đắng. Và cả con đường cũng phơn phớt xanh do thứ phấn hoa này.
Những tường rào, dường như xây bằng đá bọt, cũng có mùi biển. Trong viên đá tường rào có vô số những vỏ sò biển bé li ti. Chúng lấp lánh bởi những mảnh xà cừ vỡ và có thể làm trầy xước tay.
Đôi khi một vệt lưới đánh cá cắt ngang lớp bụi dày trên đường. Người ta kéo tấm lưới này qua đây lúc sáng sớm. Tấm lưới san phẳng mặt lớp bụi và để lại trên đó mấy cọng rong sần sùi và những con cá firinka đã kịp khô cứng, trông giống như được cắt ra từ một tờ giấy bạc. Những cọng rêu còn ướt và nóng bên trong, có mùi nước muối và có hơi nước bay lên.
Mấy con rắn mối bò trên các mái nhà, trên viên ngói marseille màu da cam. Tôi có cảm giác như việc chế tạo ra những viên ngói này (tất nhiên ở đâu đó tại miền nam nước Pháp, gần Marselle hoặc Tulon) – một công việc khoan thai gắn liền với những bí mật nghề nghiệp cổ xưa và vì vậy khá thơ mộng. Tôi tin rằng những nhà máy sản xuất ngói marseille chắc phải được xây dựng gần bờ biển.
Tôi muốn nghiên cứu việc chế tạo ngói này và viết một quyển sách dày về nó. Tôi biết có lẽ bạn đọc sẽ nhận được từ quyển sách như thế những thông tin bổ ích nào đấy, nhưng dù trong bất cứ tình huống nào tôi cũng cố gắng truyền vào đó chất thi ca của nghề này.
Ngói marseille còn làm cho tôi thích bởi lẽ nó gắn với miền nam và với biển. Chỉ cần sau các ô cửa sổ của đoàn tàu Moskva – Odessa trong khoảng không xa tít tắp trong suốt như gương xuất hiện những mái ngói màu đỏ là tôi biết rằng biển không còn xa nữa.
Ngoài ra, những con sóng xô bờ luôn ném lên những mảnh vỡ của ngói marseille. Tôi cứ ngắm không biết mệt màu cà rốt đỏ mọng của ngói và bề mặt ngói có cấu tạo hạt mịn màng.
Đâu đó trên những tường rào của dân chài ở khu Fontan Lớn lủng lẳng những chùm nho trĩu quả. Những quả thuôn thuôn thơm mùi hạt nhục đậu khấu và mòng mọng chất nước màu hồng. Tôi đổi ba điếu thuốc để lấy một chùm quả này.
Qua khỏi khu Fontan Lớn con đường chạy chếch về phía cánh đồng. Các biệt thự đã lùi về phía sau, quyết định không dịch chuyển vào vùng đất nắng chói chang. Hai bên con đường làng những chiếc lá ngô nhẹ nhàng khua xào xạc. Các bắp ngô đã bị bẻ, thu hoạch hết, và tôi có cố nhìn khắp nơi cũng không còn thấy một bắp ngô nào sót lại.
Những chú ve sầu sống dưới đất kêu rang rảng, không khí oi ả, đôi lúc tất cả những cành cây khô bắt đầu nứt răng rắc. Tôi thấy vui vui vì âm thanh răng rắc này: nó có nghĩa là từ ngoài biển đã thổi vào một cơn gió mát, dù là yếu.
Đó là phần lớn những gì tôi đã nhìn thấy và những điều tôi nghĩ trên đường đi đến tháp Kovalevsky. Và liên tục sát sườn tôi là tiếng rì rào của một vùng biển mênh mông, tựa như bạc nitrat màu thanh thiên nóng chảy – miên man sự tươi mát và tiếng động dịu dàng.
Tôi đến tháp Kovalevsky khi cái nóng đã bắt đầu dịu bớt. Trên bờ biển dốc tôi nhìn thấy một số biệt thực có vườn cây bao quanh. Tất cả các cửa sổ và cửa ra vào trong những biệt thự này đều hư hỏng. Các vườn cây mọc toàn những đám cỏ cao đã khô.
Tôi chọn cho mình cái biệt thự có chòi tháp bằng gỗ ván. Phía trên có một cầu thang xoắn bằng gang. Cầu thang đã bị hư hỏng.
Bằng một sự kỳ diệu nào đó mà bên trên vẫn còn nguyên vẹn cánh cửa mở ra ban công và cửa chớp trên ô cửa sổ duy nhất, nhưng chính ô cửa sổ thì không còn cánh cửa. Điều chủ yếu là mặt sàn vẫn còn nguyên vẹn.
Gần đấy còn có năm biệt thự đổ nát. Tại đó không có ai ở, ngoài những con chim én và những con thằn lằn xám.
Tôi quyết định ở trong căn phòng trên chòi tháp. Tôi cảm thấy mình ở trên đó như ở trên tháp hải đăng.
Tôi hiếm khi được cảm nhận sự tự do hoàn toàn như thế và có được cái nhận thức rằng mình được quyền sống như mình muốn, rằng tôi hoàn toàn coi mình vừa là một Robinson vừa là một ẩn sĩ và tôi được tự do sử dụng toàn bộ thời gian và tất cả những ngày sắp tới. Và cái việc mà mọi người thường phải khốn khổ - chăm lo cho cuộc sống và những việc lặt vặt trong nhà, - đối với tôi lại có vẻ nhẹ nhàng và thậm chí còn dễ chịu.
Tôi phải đi bẻ các nhánh cây cỏ đắng và ngọn đót, buộc thành một chiếc chổi to để quét biệt thự.
Trời đã nhá nhem tối, tôi ra bờ biển và thu nhặt ở đó nhiều rong tảo khô tấp vào bờ thành búi mềm. Tôi chỉ chọn những cộng rong già đã bị phong hoá và không còn mùi thuốc. Đây là vật liệu tuyệt vời để trải lên sàn làm đệm ngủ.
Từ lâu mọi người đã biết rằng khi con người càng ít đồ dùng thì họ càng quí giá và gắn bó chặt chẽ hơn mỗi vật dụng với cuộc sống, và vật dụng đó càng có ý nghĩa to lớn hơn trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Tôi soạn chiếc ba lô của mình. Với cảm giác biết ơn tôi lôi từ trong ba lô ra một cây đèn dầu, một túi dầu xăng, hai bao thuốc lá, bánh bít cốt, đường sakharin, trà khô làm từ cà rốt, muối đỏ thô, gạo tấm và còn một ít luơng thực gì đấy. Dưới đáy ba lô tôi tìm được một chếc áo lót thuỷ thủ, mấy quyển vở, mực bút chì bi tự chế và mấy quyển sách.
Tất cả những thứ khác thì phải khai thác tại chỗ - trong “cánh đồng hoang” hoặc ngoài biển.
Tôi mang theo lưới đánh cá và một lượng dự trữ dồi dào những chiếc lưỡi câu mạ bạc. Những dân chài Odessa cho rằng cá biển thích đớp những lưỡi câu màu trắng hơn so với những lưỡi câu màu đen và lưỡi câu đồng. Theo tôi thì đó hoàn toàn chỉ là thiên kiến, nhưng nhờ thiên kiến đó mà tại một làng đánh cá ở ga số 16 tôi đã đổi những lưỡi câu mạ bạc để lấy được một chai dầu hướng dương đặc và từ đó trở đi tôi cảm thấy mình như vua Kroisos[2].
Tôi trải qua đêm đầu tiên trong trạng thái mệt lử, nhưng dễ chịu, ngủ không đẫy giấc và không hoàn toàn sảng khoái. Tôi ngủ nhưng vẫn nghe rõ tiếng sóng biển ầm ì, tiếng ve sầu kêu ra rả, tiếng đá lở rào rào và tiếng cót két khe khẽ của đường dây điện cũ. Nó đung đưa suốt ngày trên cây cột cạnh cánh cổng sắt.
Đôi lúc những âm thanh đó bỗng im bặt, và chỉ sau vài phút có người nào đó thở dài ngoài cánh đồng hoang, như một con thú lớn đang trở mình để ngủ thoải mái hơn.
Tôi nhắm mắt lại, rồi đến khi trong một khoảnh khắc tôi mở mắt ra thì ánh sáng mờ xanh đã tràn vào căn phòng cho đến tận trần nhà. Không thể nào phân biệt được màu sắc của ánh sáng đó với bầu trời. Bầu trời đã hiện lên bên ngoài cửa sổ như một khoảng không vô tận lờ mờ và đặc quánh. Trong mảng màu xanh biếc của nó đã hình thành những vệt mây đỏ thắm. Nhưng tôi không hình dung ra ngay điều đó và tiếp tục nằm mơ màng, ngủ thiếp đi từng mười phút một, và mỗi lần như vây tôi lại ngạc nhiên thấy từ trong bóng tối, như một tấm phim chụp ảnh, căn phòng của tôi lại hiện hình lên mỗi lúc một rõ ràng và chi tiết hơn.
Cuối cùng thì bình minh đã đến khi trên thanh vịn ngoài ban công có một chú chim nho nhỏ đến đậu và hót véo von:
“Ong bò vẽ đang ngủ, ong bò vẽ đang ngủ, ong bò vẽ đang ngủ, nhưng bạn đừng ngủ nữa!”
“Bạn đừng ngủ nữa, đừng ngủ nữa!” – nó kiên trì nhắc lại, và tôi nhìn thấy chiếc mào vàng trên đầu nó ửng sáng như một ngọn lửa bù xù do tia nắng đầu tiên,
Ông mặt trời thật vĩ đại để có thể trên hàng ngàn ki lô mét khoảng không gian trái đất chỉ dùng tia nắng đầu tiên chiếu vào một mào lông duy nhất của con chim, trông giống như một cuộn len nhỏ.
Tôi dậy và ra biển tắm. Bờ biển khá dốc, đôi chỗ như một vách đứng. Đi xuống thật nguy hiểm.
Ngay buổi sáng hôm đó tôi chui vào nắp cửa dưới sân thượng và tìm được ở đó một chiếc xẻng han gỉ và thêm vào đó là một số vật dụng rất cần thiết – một chiếc búa, một đống đinh cong queo, một cuộn dây thép, một hộp sắt lớn với dòng chữ “Monpanse Landrin”.
Tôi nhặt tất cả những thứ này. Chúng rất có ích cho tôi, “đâu ra đấy”, và – tính đãng trí của con người là như vậy – mấy ngày sau tôi đã tin rằng nếu như không tìm thấy những vật dụng này thì có lẽ tôi không thể nào sống trong biệt thự dù chỉ một ngày. Chẳng hạn, tôi biết chứa vào cái gì đây lượng nước ngọt chảy ra từ mạch nước rỉ ra từng tí một dưới bụi cây thánh liễu trên bờ dốc, nếu không có cái thùng sắt? Hoặc tôi có thể lấy cái gì để đập bẹp cục chì vào miếng phao chìm nếu không tìm được cái búa?
Nhưng vật quí nhất tìm được sau cái thùng tôn của monpanse tất nhiên là chiếc xẻng.
Tôi không vội làm việc trong ba ngày và đào ở chỗ bờ dốc nhất một đường hào với các bậc thang – một dạng cầu thang hẹp bằng đất,
Tôi thích cái công việc làm đất kiểu “thợ đấu” này. Trên lát cắt do chiếc xẻng tạo ra đất sét sáng lên màu sơn hổ phách. Trên những lát cắt này thấy rõ những rể cây to và dài hết cỡ của một loại cây nào đó nhô lên khỏi mặt đất chỉ độ năm xăng-ti-mét.
Mọi thứ thật kỳ diệu. Nhưng điều phát hiện thú vị nhất làm tôi kinh ngạc ngay trong buổi sáng đầu tiên là toàn bộ dải bờ khô cứng này cùng với cây có gai, những khối đất lở, cây kim tước chi vàng óng, những cơn gió, bãi cát, những đám rong, bầu trời và những đám mây, toàn bộ dải bờ biển tím nhạt và oi ã này không thuộc về ai cả, hay nói đúng hơn, chỉ thuộc về mỗi mình tôi.
Cả tuần tôi không nhìn thấy một bóng người nào.
Nếu muốn tôi có thể đào một cái hang thật đẹp vào bờ dốc. Hoặc đắp một mương nước và xây dựng trên bờ một hồ nước nho nhỏ. Hoặc xây trên bãi cát những kim tự tháp bằng các mảnh gỗ bị nước biển bào mòn, các nẹp sắt của những chiếc xuồng cũ và các phao gỗ của lưới đánh cá. Hoặc chặt những cành trắc bá diệp và rải chúng lên mặt sàn căn phòng tôi ở để hít thở mùi nhựa cây. Không ai có thể cấm tôi làm điều đó.
Và cuối cùng tôi đã làm như thế. Chỗ ở của tôi ngày càng có thêm nhiều những thứ ngẫu nhiên tìm được, nhưng rất thú vị. Trong các biệt thự bỏ hoang bên cạnh tôi tìm được một chiếc đèn pin vỏ sắt, chiếc đồng hồ cát và một chiếc ô Trung quốc. Tôi đưa tất cả những thứ đó về phòng mình.
Ngày đêm chậm chạp trôi. Mặt trời chẳng đi đâu mà vội.
Thời gian như ngừng lại, chậm bước hơn. Có lẽ nó nuốn dừng hẵn lại.
Nhưng tôi biết, sau buổi sáng sẽ là một ngày mới bất di bất dịch – bất di bất dịch đến mức tất cả những ngày này đã trọn một tuần mà tôi có cảm giác như chỉ là một ngày dài liên tục vô tận.
Tôi đã quen với tính liên tục đầy oi bức của ngày dài này (đêm dường như chỉ tạo ta để được nghỉ ngơi khỏi ánh sáng gay gắt ban ngày), quen với âm thanh đều đều của nó, như một dây đàn âm vang từ trong lòng đất, quen với việc bầu không khí bị nung nóng mất hết cái trong trẻo và biến thành một tấm kính mờ, và cuối cùng là quen với việc bầu trời có màu xanh loang lổ. Màu xanh đó chỗ thì đậm đặc, chỗ thì nhợt nhạt dưới sức dồn ép của gió.
Người ta bảo rằng sẽ có lợi nếu con người thỉnh thoảng lại sống một thời gian trong cảnh cô đơn.
Qua kinh nghiệm sống của mình tôi biết rằng có nhiều dạng cô đơn. Tôi sẽ không kể chúng ra đây, nhưng tôi biết có sự cô đơn giữa đám đông và sự cô đơn rừng rú, có sự cô đơn đồng hành với nỗi khổ đau, và cuối cùng, có sự cô đơn ngoài biển khơi, nó thường gần giống với trạng thái hưng phấn tinh thần thầm lặng.
Đó là sự hưng phấn thầm lặng khi con người thậm chí thù địch với mọi cuộc chuyện trò. Anh ta thích im lặng. Vâng, biết nói gì đây bằng cái ngôn ngữ thông thường của chúng ta, khi mà cơ thể đen sạm bị hun nóng suốt ngày bỗng được bọt nước biển tung lên bởi cơn gió và ngọn sóng vỗ dịu dàng bắn lên khắp người và làm cho mát mẽ. Bọt nước sẽ tan ra trên người bạn, lăn trên làn da những hạt khí thơm tho, và cọ vào làn da bị hun nóng một cách nhẹ nhàng và tươi mát, như ngọn gió thổi đến từ những hòn đảo, nơi cho đến tận bây giờ có lẽ những nữ thần Diana[3] trinh trắng màu đồng thau vẫn còn đang ngủ yên trong lòng đất.
Mà cũng có thể sự tiếp xúc này làm ta liên tưởng nhiều hơn đến những bím tóc thiếu nữ còn ướt sau khi vừa tắm gội.
Trong cái cô đơn ngoài biển khơi, trong cuộc hội ngộ mắt nhìn tận mắt với khoảng không bao la đang rì rào, luôn luôn tồn tại nhận thức nếu không phải là về sự bất diệt thì trong mọi trường hợp cũng là về những năm dài mà biển luôn dâng tặng cho chúng ta.
Tôi sử dụng toàn bộ thời gian trong ngày, cho đến tận lúc mặt trời lặn, để ở trên bờ biển. Tôi thường ngủ thiếp trong bóng râm của một tảng đá lớn. Tôi đọc từng dòng trong quyển sách và có thể nhìn hàng giờ lên những cuộn mây đang bay.
Có lẽ, mà đúng như thế, chính vì điều này mà lúc đó tôi cảm thấy hạnh phúc. Ánh sáng trong sạch, nguyên sơ, không bị bất cứ thứ gì xâm phạm vào, chiếu xuống mặt đất, và tôi hoàn toàn quên mất rằng sự tĩnh lặng bao la và bất ngờ như thế này của tinh thần, theo lời của những người mê tín, không bao giờ tránh khỏi sự trừng phạt.
Và, tất nhiên, sự trừng phạt đã đến.
Lúc đó tôi đang nằm trên bờ biển, nheo mắt nhìn những quả cầu lửa đa sắc, - chúng xoay tròn trước mặt tôi trong khoảng không gian xanh biếc nào đó. Tôi đang hình dung xem khoảng không gian này là cái gì – phải chăng là bầu không khí trên biển, hoặc có thể đó là bầu trời, với tính khí đỏng đảnh đã làm biến đổi màu tím sẫm và muốn làm nổi bật thêm một ít tia sáng bạc và màu vàng phơn phớt.
Trong khi tôi đang mãi nghĩ ngợi về những điều đó thì từ trên bờ dốc cao vang đến tiếng người gọi văng vẳng. Tôi ngoái lại và nhìn thấy trên rìa màu xanh biêng biếc của bầu trời êm đềm một người đàn đông đang vẫy chiếc mũ kêpi. Người đàn ông bế trên tay một đứa bé mặc váy cộc tay đỏ bạc màu. Đứa bé cũng ngập ngừng vẫy bàn tay nhỏ xíu như một cọng rơm về phía tôi.
- Xin chào! – người đàn ông hét to từ trên bờ dốc. – Rất vui mừng nhìn thấy anh khỏe mạnh, anh Konstantin Georgievich! Lên đây với chúng tôi một chốc!
Tim tôi se lại. Tôi không ngờ được là có ai đó tìm ra tôi ở chốn cô đơn này và làm gián đoạn giấc mơ hi hữu, trong đó tôi đang sống những ngày cuối cùng. Ngay cả cái câu “xin chào” cũng cất lên như ảo mộng và vang đi giữa cái nóng khắc nghiệt của khu đồng hoang, giữa tiếng xào xạc của bờ cỏ hoang dã và tiếng ì ầm của nước đổ xuống từ dãy núi Ponti[4].
Chưa muốn đứng dậy và trèo lên bờ dốc, tôi cố đoán xem người đàn ông với đứa bé gái này là ai và ông ấy cần gì ở tôi.
- Anh tài thật đấy! – người đàn ông lại hét to. – Một ẩn sĩ! Một tu sĩ khổ hạnh! Một Robinson! Một thủy thủ Selkirk! Một Simeon Stolpkik! Một Jean-Jacques Rousseau!
Tôi trèo lên bờ dốc, cố nén cơn giận đang bùng lên, và im lặng để không chửi thề, còn người đàn ông vẫn tiếp tục chế diễu tôi trên lằn ranh giữa mặt đất bạc màu và bầu trời mênh mông xanh ngắt. Anh ta hét to:
- Một Odissei! Một Miklukho-Maklai! Một Phlibuster! Một Iphigenhi ở Tavrida! Một người câm vĩ đại!
Cuối cùng thì tôi ngẩng đầu lên để buộc anh chàng ba hoa này không nói nữa, và nhận ra đó là Vazia Reginin. Anh bế trên tay đứa con gái sáu tuổi của mình tên là Kira và anh mỉm cười.
- Còn tôi đã nhanh trí tìm được một kẻ ngốc nghếch trên bờ biển này, một kẻ ngốc nghếch đã được dạy dỗ bởi viện sĩ hàn lâm Aivazovsky, có phải thế không nào? – anh ấy hỏi tôi và đưa tay để giúp tôi vượt qua bậc thang dốc cuối cùng. (Đó là những bậc thang do chính tôi đào cách đây không lâu và tôi rất tự hào về chúng). – Hãy công nhận là anh có bực mình đi. Tôi tìm được anh thật là một điều kỳ lạ. Torelli bảo chắc anh đang ở đâu đó gần tháp Kovalevsky.
Cháu gái nguýt nhìn tôi bằng đôi mắt mờ tối rất xanh và bám vào khuỷu tay bố.
- Ta đến cái vila của tôi đi, - tôi đề nghị. – Nào, trong thành phố thế nào? Không có chuyện gì xảy ra chứ?
- À không, không có gì đặc biệt, - Reginin trả lời, và trên đôi mắt anh bỗng xuất hiện mấy giọt lệ. Chúng như bất ngờ tràn đầy cả hai mắt anh. Có mấy giọt lăn trên má và rơi xuống ống tay áo nhàu nhỉ, sờn rách.
- Thôi nào, bố, - cháu gái bé nói với giọng nghiêm trang. - Con sẽ ở lại đây. Con không sợ đâu.
Reginin vừa lau nước mắt bằng chiếc khăn tay thủng lỗ chỗ vừa nói rằng vợ anh bị mắc bệnh sốt phát ban, đang nằm mê sảng ở nhà và anh, trong tâm trạng hoàn toàn thất vọng và bối rối, phải đưa con gái đến chỗ tôi, vì trong thành phố không thể đưa nó đến đâu được. Không thể để nó ở trong một căn phòng nhỏ cùng với mẹ. Anh không có bạn bè nảo ở Odessa, và thế là… - Giọng anh nghẹn lại. Hai môi cháu gái bỗng sệ xuống, mếu máo, và cháu lại nói:
- Được rồi, cháu sẽ ở lại đây với chú…
- Chú Kostia, - Reginin tiếp lời. – Con hãy ở lại nhé. Lúc nào mẹ khỏe bố sẽ đến đón con ngay. Anh còn ở đây lâu chứ? – anh hỏi tôi.
Tôi do dự.
- Vâng, - tôi trả lời. – Cần ở bao lâu cũng được, tất nhiên rồi.
- Vậy thì ở lại đây nhé, trái tim nhỏ bé thương yêu của bố, - Reginin cúi người xuống và áp môi lên đầu con gái. – Con hãy yêu quí chú Kostia. Và nghe lời chú ấy. Chú ấy là người bạn lớn của chúng ta.
Anh đưa tay bắt tay tôi, rồi không nhìn tôi, anh nói lắp bắp:
- Thôi, tôi đi đây. Kẽo Maria Ivanovna phải nằm một mình. Cô ấy đang mê sảng.
Anh quay người và đi khỏi, còn tôi, luống cuống, ở lại bên cạnh với cháu gái trên cánh đồng hoang oi ả. Thậm chí tôi không nhận ra là Reginin không đem gì theo đến đây cho cháu gái, không có gì hết, thậm chí cả một túi nhỏ đồ đạc. Cháu gái đến đây chỉ với quần áo mặc trên người. Tôi nhìn theo Reginin, và bỗng nhận ra một bàn tay bé tí xíu nóng hổi nắm chặt ngón tay tôi, và cháu gái nói:
- Nào, chú cháu mình sẽ sống ở đây như trong một trò chơi.
Thật khó mà hiểu được cháu bé muốn nói gì bằng những lời này, nhưng từ lúc đó cuộc sống trên cánh đồng hoang đúng là đã diễn ra như trong một trò chơi, - lúc thì như thực, lúc như trong mộng.
Từ lúc đó trở đi nỗi lo sợ cho cuộc sống của cô bé mảnh mai như con chuồn chuồn này đã chẹn trên cổ họng và trái tim tôi và kéo dài mãi cho đến khi Reginin bảo Torelli đến tìm chúng tôi. Nhưng việc đó, như tôi còn nhớ, xảy ra không sớm hơn ba tuần sau.
Tôi cứ sống như thế trong tâm trạng lo sợ, thất vọng, trắc ẩn và yêu thương. Tất cả những tâm trạng này hòa nhập thành một thứ tâm trạng không có tên gọi. Tâm trạng đó lúc thì dịu bớt đi, lúc thì quặn thắt thành một cơn đau thậm chí chỉ vì một chuyện vặt vãnh, như việc lể ra một chiếc dằm từ ngón tay bé tí đang run cầm cập.
Nhưng cuối cùng thì trên hai cánh tay tôi là một cuộc đời nhỏ bé cả tin, và tôi nâng nó trên hai tay mình. Hơn nữa lương thực tôi mang theo còn lại rất ít, hoàn toàn không có xà phòng và, ngoài chiếc áo bờ lu dông da xài xạc của tôi ra không thể tìm thấy thứ gì khác để đắp cho cháu gái. Mà đêm thì trời đã lạnh, và vào những buổi sáng sớm không khí của mùa thu đã len lõi vào trong phòng ngày một nhiều hơn.
Cho đến tận bây giờ tôi cũng không hiểu được vì sao trong những ngày đó tóc tôi không bạc đi vì tuyệt vọng. Tôi lo sợ đủ thứ: sợ nắng nóng chang chang (lúc nào tôi cũng lo cháu bé bị tác động của nắng và nóng), sợ bờ dốc trên biển (không được để cháu bé ngã từ bờ cao xuống, chết vì tai nạn, và vì vậy tôi làm cho các bậc cầu thang tôi đã đào trong đất sét cứng dễ đi hơn), sợ những đêm giá rét (cô bé có thể bị cảm lạnh), sợ bão biển với những cơn gió của chúng), sợ đói (tôi tính toán lương thực chỉ còn đủ cho chúng tôi được bảy ngày).
[1] Kafir – những bộ lạc người da đen đa thần giáo ở Nam Phi (ND)
[2] Kroisos (595-529 trước công nguyên), vua cuối cùng của đế chế Lidia cổ đại (ND).
[3] Diana (trong tiếng La Mã có nghĩa là "trên trời" hoặc "thiên thần") là một nữ thần trong thần thoại La Mã, Diana là nữ thần săn bắn đồng thời là nữ thần mặt trăng và tượng trưng cho sự sinh sản. (ND)
[4] Dãy núi Ponti – dãy núi ở bắc Thổ nhĩ kỳ, chạy dọc theo bờ nam Hắc hải, từ cửa sông Yeshilirmak đến cửa sông Echrouk, và còn đi tiếp đến đỉnh núi Kaskar (cao 3.428m), được coi là điểm cuối của dãy núi này. (ND)
THỜI GIAN CHẬM TRÔI - Paustovsky K.
chauphanbach | 30 April, 2012 14:23
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
>> 19a. Thời gian chậm trôi
>> 19b. Thời gian chậm trôi (Tiếp theo)
THỜI GIAN CHẬM TRÔI
(Tiếp theo)
Mọi quyển sách, mọi sự thưởng ngoạn và mọi ý nghĩ hạnh phúc đều bay khỏi đầu tôi. Dường như chưa hề có chúng. Và, có lẽ, do lo sợ quá mức nên trong những ngày đầu tiên tôi đã không nhận ra là lúc nào cháu bé cũng giúp đỡ tôi – nhặt gỗ vụn và cỏ khô để đốt lò, quét dọn trong biệt thự và ngoài vườn bằng chiếc chổi bó bằng cành cỏ đắng, lấy nước từ khe nước vào các vỏ đồ hộp để mang về. Sự thực là cháu đã mất gần cả một tiếng đồng hồ để bê nước về để không làm rơi vãi một giọt nào.
Cháu ít khi hỏi tôi về bất cứ điều gì và cố gắng tự mình đoán ra mọi việc không cần tôi giúp đỡ.
Cháu hầu như không khóc. Nhưng có một hôm, khi một hòn đá sụt xuống từ bờ dốc và làm cháu bị thương ở chân, cháu đã khóc ré lên một cách thảm thiết như một đứa bé bị bỏ rơi ban đêm trên cánh đồng hoang. Người cháu run lên và cháu bám vào cổ tôi khi tôi dùng miếng giẻ sạch băng bàn chân chảy máu cho cháu.
Tất nhiên tôi hiểu rằng cháu khóc không phải vì hòn đá đã làm cháu bị dập chân và chảy máu, mà vì nỗi đau vô cùng tận đã tích lũy lại trong cuộc đời cháu vào những ngày gần đây.
Điều khủng khiếp nhất là ở chỗ không thể nào áp bầu ngực của người mẹ lên khuôn mặt nóng hổi và ướt nước mắt, và vừa tức tưởi và oán trách lung tung khi hiểu rằng trên cả thế giới chỉ có một người có thể mang lại cho cháu bé toàn bộ sự âu yếm, tình yêu và sự che chở của mình. Và người đó chính là người mẹ.
Nhưng mẹ đang nằm ở Odessa trong cơn sốt nặng. Thậm chí có thể mẹ đã chết. Lẽ ra không nên nghĩ đến điều này để không làm ảnh hưởng đến cháu bé. Nhưng cả hai người – bà mẹ và cô bé – giờ đây đều tiếc nhớ từng giờ khi họ chia tay nhau cách đây một thời gian. Bởi vì khi thời gian còn lại để họ yêu thương nhau giảm đi một giờ có nghĩa là thêm một giờ tiến gần hơn đến bờ vực đen tối không ai cần đến mà người ta gọi là cái chết.
Tôi tin rằng chính cháu bé đang ở trong tâm trạng đó, nhưng tôi không biết có cách gì để làm cháu bé cười dù chỉ là đôi lúc thôi. Cháu bé hơi mỉm cười, nhưng tôi tin rằng cháu cố cười chỉ để cho tôi an tâm.
Người nào chưa có con thì không bao giờ hiểu được rằng có một thế giới phi lý những điều ngẫu nhiên bi thương đang tồn tại rất gần chúng ta, ở đâu đó ngay bên cạnh. Và vị tất người đó có thể hiểu được thế nào là một tình yêu đắm say trọn vẹn.
Tất nhiên là cần phải sống. Cuộc sống của hai chú cháu lúc đó rất khắc nghiệt. Nhưng tôi có nhiều việc phải lo nghĩ nên không nhận ra điều đó.
Mà những việc phải lo nghĩ thì nhiều đến mức có lẽ tôi không thể nào kể ra tất cả được.
Đầu tiên là việc tắm rửa. Chúng tôi tắm ngoài biển, nhưng sau cái bể nước mênh mông này, nó làm bắn lên mặt chất muối mặn chát, cần phải tắm lại bằng nước ngọt và lạnh buốt từ trong khe nước chảy ra.
Không có xà phòng. Đành phải dùng cát mịn cọ lên mặt và tay. Nhưng mấy ngày sau tôi thấy ở bờ dốc ngay tại bãi tắm có một lớp bùn xanh nhạt đã hóa thạch xen kẽ trong đá vôi.
Từ lúc còn bé tôi nhớ có bánh xà phòng nhãn hiệu là “Kil”. Nó tạo ra bọt trong nước biển rất tốt và nó được làm từ loài đất sét xanh nào đó ở Krime. Thậm chí tôi còn nhớ nhãn hiệu của nhà máy nấu xà phòng ỏ Sevastopol là Kharchenko với hình chiếc mỏ neo và ảnh của một bác rậm râu – ông chủ của cái nhà máy đã mang hạnh phúc đến cho loài người bằng cách sản xuất ra xà phòng “Kil”
Tôi cạy mấy cục đất sét xanh ra và thử cọ xát nó lên hai bàn tay ướt. Hai bàn tay phủ một lớp nhầy. Tôi rửa sạch nước nhầy và thấy bên dưới là lớp da sạch bong.
- Kil đây rồi! – tôi hét lên với Kira.
- Kil, kil, kil! – lần đâu tiên cháu bé hét to, nhảy chân sáo bên cạnh tôi trên cái chân không bị đau.
Kira gom nhặt kil, tán nhỏ nó ra, nhào trộn như nhào bột, cắt khối bột nhão thành từng viên nhỏ rồi phơi nắng cho khô. Cuối cùng thì tôi đã giặt cái áo sơ mi của mình và chiếc váy ngắn tay màu đỏ duy nhất của Kira một cách cực kỳ cẩn thận. Sau đó chúng tôi phơi ngay các thứ lên trên cát.
Nói thật, một nửa số sợi vải trong chiếc váy sau khi giặt xong có được cái màu xám sạch bong còn ở một vài chỗ xuất hiện những lỗ thủng, nhưng bù lại chiếc váy thoang thoảng mùi thơm của biển khá lâu.
Tôi càn rỡ đến mức đã cùng với Kira đi đến ga số 16 Fontan và cầm theo mấy bánh xà phòng tự chế tạo. Tôi hy vọng đổi nó để lấy lương thực.
Một chị ngư dân trẻ với cái tên sang trọng Kalirissa – chị là người đầu tiên được tôi giới thiệu mặt hàng kil tuyệt vời của mình – cười một hồi lâu, nhìn tôi đầy vẻ trách móc rồi bảo:
- Ôi, anh đừng đánh lừa tôi! Ôi, anh đừng bày trò vớ vẩn với tôi, anh bạn trẻ! Xin chào anh, tôi là bà cô của anh. Đây là thứ kil thông thường thôi mà. Ở ngoài đó nó nhiều như nước biển. Nhưng cô con gái của anh đúng là một cô gái đẹp, trông như một quả mơ.
Tôi giải thích cho Klarissa bết Kira là ai.
- Anh đợi ở đây nhé! – Klarissa ra lệnh, lau đôi môi dày bằng chiếc váy ngắn rách bươm rồi đi ra vườn. Từ ngoài vườn cô xách vào một giỏ cà chua, cà tím, cà rốt, ớt và hai chùm nho to.
- Nào, đợi một tí! – cô nói tiếng Ukraine. – Hãy đưa kil của anh cho tôi, cứ cho nó là như thế, và mang tất cả các thứ này về với cả cái giỏ luôn.
Tôi bắt đầu cám ơn cô.
- Xin chào, tôi là cô của anh kia mà! – cô nói với vẻ ngạc nhiên. – Sao anh lại thế? Anh quên rồi sao? Hôm nay tôi sẽ đến chỗ bác anh. Ông ấy đang đánh cá ở mũi Sanzhei. Rồi khoảng hai tuần nữa tôi quay về đây, anh nhớ đến chỗ tôi nhé. Phải đến nhé. Chúng tôi sẽ làm quen với anh. Tôi đã biết là anh đang sống cạnh tháp Kovalevsky.
Cô chìa bàn tay nhỏ nhắn ram ráp ra bắt tay tôi. Chẳng biết tại sao tôi bỗng muốn giữ lâu hơn bàn tay ấy trong tay mình. Cô vừa cười vừa rụt tay lại rồi nói:
- Đánh lừa tôi như thế không được đâu! Tôi sẽ mang về và kiểm tra xem. Thôi anh đi đi, chỉ có điều là hãy quay nhìn lại một lần. Vì lịch sự.
Tôi bước đi. Một lần quay lại, tôi nhìn thấy đôi mắt và đôi môi cười của Klarissa và tôi quyết định sẽ không đến đây nữa.
Chỉ vài ngày trôi qua, và cuộc sống tự nó đã trở nên dễ chịu, ổn định. Tôi lại có thể đọc sách và bắt đầu kể cho Kira nghe trên bãi tắm tất cả những gì đến trong đầu tôi.
Không thể nói đó là những chuyện cổ tích. Không, nó hoàn toàn là những câu chuyện thực và không tách rời chút nào với thực tế. Nếu cần ví dụ tôi sẽ lấy câu chuyện đầu tiên gặp được.
Kira tìm được trên cát mấy mảnh thủy tinh từ một cái chai vỡ được biển bào mòn. Cháu coi chúng là những viên đá quí. Cháu không muốn tin đó đơn giản chỉ là thủy tinh mà ở các vùng ngoại ô Odessa chúng được chất hàng đống.
Trong một chừng mực nào đó thì cháu nghĩ đúng. Nếu như trên trái đất thủy tinh hiếm thấy như kim cương, và ngược lại, nếu kim cương có nhiều như thủy tinh, thì tất nhiên thủy tinh sẽ được đánh giá bằng trọng lượng của vàng.
Có một lần Kira hỏi tôi người ta đào thủy tinh ở đâu, và tôi buộc phải kể cho cháu nghe rằng người ta không đào thủy tinh, mà người ta chế tạo nó ra từ cát. Tôi bắt đầu kể cho cháu về việc này và sau nửa giờ tôi hoảng hốt tự mình nhận ra rằng tôi đã kể hoàn toàn không đúng.
Tôi kể cho cháu về việc bằng cách nào mà người ta gắn được bên trong quả cầu thủy tinh một hạt hoa tuy luýp đen cực kỳ hiếm thấy và mang nó trên một chiếc tàu thủy đến nước Hà lan, và làm thế nào mà vì cái hạt này đã khơi mào một cuộc chiến tranh đẫm máu giữa những người làm nghề trồng hoa, và vì sao cuộc chiến tranh đó lại chỉ kết thúc bởi việc một cậu bé lên hai lẳng lặng đi trốn khỏi bà bảo mẫu lắm lời và cậu bé đã ngắt được một bông hoa tuy luýp đen được trồng từ cái hạt kia, vào lúc người lính gác canh giữ bông hoa này chui vào một lều vải bạt kẻ sọc để châm tẩu thuốc khi trời gió. Nhiều năm sau những người phụ nữ Hà lan đã dựng cho cậu bé này một bức tượng vì đã cứu mọi người khỏi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Bởi lẽ chỉ ngay sau khi bông hoa duy nhất kia bị cậu bé phá hủy, thì nguyên nhân của cuộc chiến tranh cũng không còn. Trên bức tượng này cậu bé được tạc trong tư thế đang xé bông hoa tuy luýp thành nhiều mảnh trong cái hăng say trẻ con khó hiểu.
Tôi không nhận ra có điểm nào mà trong đó câu chuyện về kính bỗng biến thành một chuyện hư cấu. Sự tỉnh ngộ chỉ đến với tôi ngay sau nhận xét đầu tiên mang tính nghề nghiệp của Kira.
- Tuy luýp không mọc ra từ hạt, mà từ củ, cháu biết mà, - cô bé nói. - Ở nhà cháu có hoa tuy luýp. Nếu ngắt nó thì sau một năm nó sẽ mọc lên cây khác. Và họ, những người Hà lan đó, thật là ngờ nghệch, và không biết được điều đó. Họ đã gây ra cuộc chiến tranh một cách uổng công.
Cháu dừng lại một chốc, thở dài và nói thêm: - Lại còn là những người làm nghề trồng hoa nữa chứ!
Tôi đỏ mặt. Chưa bao giờ tôi rơi vào tình thế dại dột như thế với những câu chuyện hư cấu của mình, thậm chí cả lúc còn bé. Kira nhìn tôi với đôi mắt nheo nheo tươi cười.
Thật ra cuộc chiến tranh giữa những người làm nghề trồng hoa không thể nào bắt đầu từ những hạt hoa tuy luýp. Cùng lắm thì nó có thể bùng phát từ củ tuy luýp.
Từ đó trở đi tôi đã xác định vững chắc cho mình một qui luật không viết thành văn đối với những chuyện cổ tích và chuyện hư cấu. Qui luật đó nói rằng, trong mỗi câu chuyện cổ tích, dù là mang tính thần bí nhất, cũng cần dựa trên cơ sở thực tế.
Cách nhau hai ba ngày tôi lại cùng với Kira đi bộ năm cây số đến vịnh Sukhoi. Tôi để Kira ngồi dưới bóng râm ít ỏi của những tán cây phượng vĩ khô, còn tôi thì lội ra các tảng đá phẳng ven bờ và câu cá bống ở đó. Việc câu cá này chẳng mang tính giải trí chút nào, - cá bống là món ăn duy nhất từ cá của chúng tôi.
Ở vịnh Sukhoi chúng bơi hàng đàn. Mỗi lần tôi bắt được không dưới bốn mươi con cá bống, tôi đã tính trước như thế rồi.
Tôi câu, còn Kira, vừa ngồi an phận dưới bóng râm, vừa cố đếm những con cá bống câu được. Cháu chưa đếm được quá con số mười và vì thế cứ sau mỗi chục con cháu lại đặt bên cạnh mình một chiếc vỏ ốc rỗng ruột. Khi đã đủ bốn chiếc vỏ ốc cháu hét to cho tôi biết việc đó, rồi sau đó tôi phải tự đếm.
Có lẽ Kira thích thú công việc này. Nhưng cháu ngồi an phận một chỗ còn bởi lẽ khỏi phải dịch chuyển từ bóng râm nhỏ xíu ra ngoài ánh nắng gay gắt của tháng tám.
Sau đó chúng tôi cân nhắc, sẽ dễ chịu và thú vị hơn nhiều nếu đến vịnh trước lúc trời tối. Đặc biệt khoan khoái khi đi trở về men theo những bãi cát dài vô tận vào buổi hoàng hôn, đi ven theo sát mép ngọn sóng liếm bờ, nơi cát cứng lại ngay sau khi từng con sóng vừa rút xuống. Thật dễ chịu khi đi dạo bộ trong màn đêm bất tận đang tối dần. Trên đỉnh của màn đêm đó có một đám mây lẻ loi bừng lên một đụn màu nâu nhạt.
Tôi còn một ít bột mì. Tôi dùng bột này để nướng mấy chiếc bánh mì dẹt thật hấp dẫn. Bột đã hết và một nỗi lo sợ buốt giá đã len vào tận tim tôi.
Tôi đi đến chỗ cô Klarissa ở ga số 16, nhưng cô ấy còn ở nhà bố chưa về. Hàng xóm của cô, một ngư dân đứng tuổi chỉ cười thay cho câu trả lời, khi tôi hỏi ông có còn bột mì bán không.
Tôi định đi, nhưng ông gọi tôi đứng lại.
- Kìa, gượm đã nào, - ông nói, nắm ống tay áo tôi và sờ nắn xem chất vải. – Chiếc áo này của anh bằng loại vải gì thế? Không phải áo từ nước Anh chứ?
Áo tôi đang mặc đúng là chiếc áo lính của Anh, màu xám tro. Tôi đã đổi khẩu phần trà để lấy chiếc áo này.
- Thế thì sao? – tôi hỏi.
- Thế này nhé, anh nghe đây, - bác dân chài nói với vẻ bí mật. – Anh hãy đi theo con đường mòn có vệt bánh xe trên khu đồng hoang đến Klain-Lebental. Ở đó ngay cạnh con đường có mọc một cây lê dại, còn phía sau cây lê về phía bên phải có một căn nhà nhỏ. Anh hãy đi vào căn nhà này và sẽ nhìn thấy ở đó một con đường mòn. Đi theo con đường mòn này và anh sẽ đến một nhà máy xay chạy bằng hơi nước, một cái cối xay. Người ta sẽ đổi cho anh năm funt bột mì để lấy cái áo này.
- Làm gì được nhiều thế, - tôi trả lời, tỏ ý nghi ngờ.
- Ông chủ cối xay ở đó là một người đặc biệt, - bác dân chài nói cũng với vẻ bí mật như thế. – Anh cứ đi đi. Rồi anh sẽ biết. Tiện thể cho hỏi, anh có nghe chuyện gì mới về chính trị không? Bây giờ chúng tôi đang sống như một lũ chuột, một tháng mới một lần vớ được tờ báo.
Ngay hôm đó tôi với Kira đã đi bộ đến nhà máy xay.
Tất nhiên lẽ ra không nên đưa Kira đi theo, nhưng tôi sợ để cháu ở lại một mình. Vì vậy chúng tôi cùng đi.
Con đường mòn phủ một lớp bụi dày. Đành phải đi bộ theo con đường này, trên lớp bụi này, để không đi lạc cây lê dại chỗ ngoặt vào căn nhà nhỏ. Đất sét bột bị nắng hun nóng làm bỏng cả hai bàn chân xuyên qua hai đế giày.
Kira đi chậm, sau đó bắt đầu đi khập khiểng. Tôi bế cháu lên tay. Cháu đưa hai bàn tay đen nhẻm, như tay một bé gái di gan, ôm cổ tôi và thở nặng nhọc.
Tôi buồn bã nhìn bốn chung quanh. Không có một chỗ râm mát nào cho đến tận chân trời, nếu không kể bóng râm thấp và hẹp của chiếc cột điện thoại với những dây điện bị bong lớp vỏ. Mấy lần chúng tôi đứng lại nghỉ trong bóng râm này. Chung quanh là ngọn lửa trắng của hạn hán.
Kira không một lần phàn nàn. Cháu im lặng, tựa cằm vào vai tôi, và mệt mỏi nhìn khu đồng hoang. Ở đó có mấy con bò xám đang còng lưng bước dưới cái ách. Lưỡi chúng thè ra dài đến chạm đất. Chúng thở ì ạch và thường đứng lại. Người đánh xe hét tuyệt vọng “tsob-tsobe” với mấy con bò, trong giọng như có nước mắt, và dùng chiếc gậy cong đánh vào hai bên hông phủ đầy bụi. Trên mặt lớp da bò dày hằn lên các vết gậy, trông như chữ của dân assiria[1].
Chúng tôi đứng nghỉ lại khá lâu dưới cây lê. Lá lê khua xào xạc dưới gió, nghe như bọ dừa vẩy cánh.
Theo một lối mòn đất sét khô cứng, cuối cùng chúng tôi đã đến được nhà máy xay, bước vào vuông sân được bao quanh bởi một bức tường cao, và lập tức ngồi dưới bóng râm của bức tường này và ngồi đờ đẫn ở đó có thể đến một hoặc hai tiếng.
Sân chẳng có người nào. Không ai ra gặp chúng tôi. Trên mái ngói của nhà máy xay có một ống thép, và ở đâu đó có tiếng hơi nước réo khe khẽ.
Sau đó ông chủ nhà máy xay trông thật kỳ dị đi ra sân. Đó là một cụ già cả người dính đầy bột, với bộ râu kiểu cỗ như râu Tchekhov và đeo kính kẹp mũi. Mặt kính của cụ có những vết màu trắng do mấy ngón tay dính bột dây vào.
Cụ đến gặp chúng tôi, nhấc cặp kính ra và nhìn vào tôi và Kira một hồi lâu.
Sau đó, không hỏi gì cả, cụ bỏ đi rồi mang đến cho chúng tôi một bình nước lạnh. Chúng tôi uống, nhắm cả mắt lại, cảm thấy như cái mát chạy xuống tận đầu mấy ngón tay.
Cụ già đứng đợi cho đến khi chúng tôi uống cạn bình nước, dửng dưng nhìn chúng tôi và im lặng.
- Bác là chủ nhà máy xay à? – tôi hỏi sau khi uống nước xong.
- Không, - cụ trả lời. – Tôi là người nấu rượu.
- Sao bác không hỏi tôi câu gì cả? – tôi nói và nghĩ rằng trước mặt tôi có lẽ là một cụ già bị bệnh tâm thần.
- Bởi vì tôi biết anh muốn gì rồi, - cụ trả lời và trong thẳm sâu đôi mắt cụ ánh lên nụ cười tinh ranh từ tốn.
- Biết làm sao được đây? – tôi hỏi và chỉ vào chiếc áo sơ mi nhãn hiệu Anh của mình. – Tôi chẳng còn cái gì khác.
- Thế lúc đi về anh lấy gì mà mặc? Ngoài trời nóng trên năm mươi độ.
- Tôi sẽ ngồi đây cho đến tối. Ở nhà tôi còn một cái áo nữa, nhưng nó bị rách.
- Thế sao anh không mặc nó?
- Tôi chẳng biết, - tôi thờ ơ trả lời. – Tôi mệt quá. Bốn ngày nay không còn bánh mì để ăn.
- Thế còn cháu gái?
- Tối hôm qua cháu có ăn bánh mì sấy.
- Ngồi đây nhé! – cụ già nói, rồi lại bỏ đi.
Cụ đi khá lâu. Có lẽ cái oi bức đã lên đến đỉnh điểm. Tôi đoán được điều này qua tiếng rào rào âm ĩ trên khu đồng hoang. Tưởng chừng như có hàng triệu con bọ cánh cứng đang sa vào nong mật.
Thay vì ông cụ già, đi ra sân là một bà già – người cũng lấm lem bột mì – và bà mang đến cho chúng tôi sáu quả cà chua, muối gói trong miếng vải và hai miếng bánh mì mới ra lò. Chúng tôi ăn tất cả đến tận mẩu cuối cùng chỉ trong vài phút và ngủ thiếp luôn.
Tôi tỉnh dậy khi bóng nắng đã đổ dài, trông như những cánh tay mệt lã buông trên mặt đất. Nắng đã tắt trong bụi mờ. Từ con đường mòn đã có đôi chút mát mẻ và thậm chí thoang thoảng mùi hơi nước.
Bà già đang đứng cạnh tôi.
- Dậy đi, - bà nói. – Và đánh thức cháu gái dậy. Ngủ vào lúc chạng vạng tối nguy hiểm lắm. Có thể bị cảm đấy. Đây là của Kazimir Petrovich gửi anh đấy.
Bà đặt xuống cạnh tôi một túi nặng bột mì.
Tôi đứng vọt dậy.
- Xin cám ơn! – tôi nói, mở cúc chiếc áo sơ mi và bắt đầu cởi vội áo qua đầu.
- Đừng làm thế, - bà nói. – Chúng tôi không đổi chác gì đâu. Sau này anh sẽ trả sau. Anh làm cái gì thế? Cầu chúa phù hộ anh!
Không mong có được điều này, tôi ôm cụ bà và hôn tay cụ. Tôi muốn cám ơn cụ ông, nhưng bà bảo cụ ông đã đi đâu đó. Cụ có thể đi đâu trong khu đồng hoang phẳng lì như cái đĩa khổng lồ này được!
Kira nằm im rất lâu, không thể tỉnh ngủ hoàn toàn. Trên con đường mòn chúng tôi nhìn thấy một chiếc xe ngựa. Xe đang chở hai bao lúa mì đến nhà máy xay. Có lẽ vì trời nóng nên máy xay làm việc ban đêm.
Sau đó Kira cảm thấy dưới hai gót chân bỏng dộp có lớp bụi khô cong lại trên đường và cháu cười.
- Mấy con chim sẻ, - cháu nói, - đang tắm trong bụi. Chính cháu nhìn thấy. Cháu cũng muốn tắm như thế, chỉ có điều là chú không cho phép.
Tất nhiên là cháu nói đùa, và điều đó thấy rõ qua đôi mắt nheo cười của cháu.
Những ngày oi ã chậm chạp trôi đi, nhưng cả Reginin, cả Torelli cũng đều không thấy đến đón tôi và cháu gái. Tôi bắt đầu lo lắng thực sự, không biết có việc gì xảy ra với mẹ của Kira không. Kira cũng lo buồn và bắt đầu bảo tôi đưa cháu về nhà, về Odessa. Tôi một mực tảng lờ chuyện về nhà và cố tỏ ra vô tư và vui vẻ.
Cuối cùng tôi đầu hàng và đã quyết định chọn thời gian để về thành phố, nhưng rồi một tình huống khá oái oăm đã xảy ra. Nó phá vỡ mất các kế hoạch của tôi.
Sự việc là ở chỗ mặc dù khi lấy trộm củi ở Arkadia cùng với Iasha Lifshits tôi hoàn toàn không phải là một tên trộm, chưa bao giờ và sẽ chẳng bao giờ là một người như thế.
Nhưng tại ga số 16 tôi lại buộc lòng phải ăn trộm một lần nữa, lần này không phải là trộm củi, mà là hái trộm những trái cà chua thông thường nhất.
Tôi không còn thứ gì để đổi lấy thực phẩm cả. Về chiếc áo sơ mi cũ của mình là tôi đã nói dối với cụ chủ nhà máy xay. Vì sao – chính tôi cũng chẳng rõ. Niềm hy vọng nhỏ nhoi về việc Klarissa một lần nữa lại thương hại cháu gái và cho một ít rau quả đã tiêu tan. Đầu tiên là do cho đến lúc này Klarissa vẫn ở nhà bố chưa về, và thứ hai nữa là tôi hiểu rằng với những niềm hy vọng có thể có mang tính chất đàn bà của Klarisssa đối với tôi thì cô ta sẽ không được gì.
Hái trộm cà chua tôi đi vào ban đêm, và đương nhiên là tôi không nói gì với Kira. Và kết quả thật xúi quẩy. Do cận thị tôi bị vấp ngã trong đêm tối, cụ già canh vườn tên là Budka-Khalabudka hô hoán, bắn, và nã vào lưng tôi bên dưới xương bả vai một viên đạn muối hóa chất.
Cụ già gác vườn rất buồn phiền vì phát đạn chuẩn xác của mình, do đó cụ quyết định chuộc lại tội lỗi của cụ và biếu tôi một giỏ cà chua. Hóa ra là tôi đã liều lĩnh để mang tai họa một cách hoàn toàn vô ích.
Cái chất muối bắn ra theo hình rẽ quạt, làm tôi bị thương khá nhẹ. Nhưng dù sao đó cũng là hóa chất độc. Sau khi bị bắn hai giờ tôi đã dùng nước ngọt từ khe chảy ra lau vết thương, bằng cách cọ một miếng giẻ ướt vào lưng mình. Tôi không băng vết thương lại: không có một cuộn băng nào, - rồi chỉ ngồi không mặc áo hai ngày trong bóng râm cho đến khi vết thương liền da. Tôi bảo Kira chạy xuống bờ dốc và gãi hộ lưng cho tôi.
Mấy ngày sau khi sự cố đó xảy ra thì Torelli và Izia Lifshita đến ga số 16.
Torelli đến đón Kira. Vợ của Reginin đã bình phục, cứ làm nũng và khóc vì đói và vì người ta đã cắt đi các bím tóc đen dày của cô. Còn Izia Lifshits đến để báo cho tôi biết là đã đến lúc cần trở lại tòa báo “Người thủy thủ”.
Tôi trờ về Odessa cũng với một tâm trạng buồn, giống như lúc trở lại trường trung học sau một kỳ hè ngắn ngủi và tự do. Tôi lại đến ga 16, và nếu như không xấu hổ có lẽ tôi đã khóc.
Câu chuyện nhỏ này đã kết thúc như vậy đấy. Nhưng có lẽ cái kết cục đầy đủ đã xảy ra muộn hơn, vào năm 1947, tại hội chợ sách trong Cung hội nghị của các nhà văn ở Moskva.
Reginin đưa đến chỗ tôi một phụ nữ cao ráo, rất ý tứ và điềm đạm, và anh ấy nói:
- Nào! Xin mời! Đây chính là cô Kira, mà vì cô ta anh đã bị một viên đạn muối hiền lành bắn vào sau lưng.
Kira đỏ mặt và đưa tay bắt tay tôi.
- Cháu có còn nhớ chúng ta đã sống như thế nào ở khu Fontan không? – tôi hỏi.
- Vâng, - cô ngập ngừng trả lời. – Có nghĩa là nếu nói cho đúng ra thì cháu chỉ nhớ mang máng. Nhưng khuôn mặt của chú thì cháu hoàn toàn quên.
Chẳng hiểu tại sao tôi cảm thấy hơi buồn, và để có chuyện mà nói, tôi hỏi:
- Bây giờ cháu đang làm gì?
- Cháu đã tốt nghiệp đại học và đang làm nghiên cứu sinh. Cháu đã lấy chồng. Chờ cháu một chút, cháu sẽ giới thiệu chú với chồng cháu.
Cô ấy đi khỏi chỗ tôi. Tôi đợi mấy phút nhưng không thấy cô quay lại. Lúc đó tôi lặng lẽ đi khỏi Cung hội nghị của các nhà văn và sau đó tôi không thể giải thích vì sao tôi đã bỏ đi, cố tình không để ai nhìn thấy.
[1] Assiria – một quốc gia thời cổ đại ở Bắc Dvureche (trên lãnh thổ Irak). Đế chế Assiria tồn tại trên một ngàn năm từ thế kỷ XVII trước công nguyên cho đến khi bị diệt vong vào thế kỷ VII trước công nguyên (khoảng năm 609 trước công nguyên) bởi Midia và Vavilonia.
CUỘC ẨU ĐẢ VÌ MỤC ĐÍCH CAO CẢ - Pautovsky K.
chauphanbach | 22 April, 2012 22:06
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 4. Thời kỳ của những hy vọng lớn lao:
>> 1a. Tổ tiên của Ostap Binder
>> 1b. Tổ tiên của Ostap Binder (tiếp theo)
>> 2. Mê cung bằng gỗ dán
>> 3. Cháo trứng
>> 4. Cuộc phong tỏa
>> 5. Sự phức tạp của các tình huống
>> 6. Cuộc khởi nghĩa hòa bình
>> 7. Bãi tắm Áo
>> 8. Sà phòng gliserin
>> 9. Chặt phá đồ gỗ
>> 10. Chứng chỉ in trên vải gai
>> 11. Bài diễn văn bị đánh cắp
>> 12. Cái chết ảo của họa sĩ Kostandy
>> 13. "Anh muốn gì nào, anh bạn trẻ?"
>> 14. "Tôi bảo đảm với anh là có những Maupassant"
>> 15. Cậu bé "nớ"
>> 16. Công việc khổ sai
>> 17. Gần và xa
>> 18. Cuộc ẩu đả vì mục đích cao cả
CUỘC ẨU ĐẢ VÌ MỤC ĐÍCH CAO CẢ
Trong thành phố xuất hiện những tờ áp phích màu nước tương cà chua. Những tấm áp phích này thông báo rằng, vài ngày nữa trên phố Pushkin tại một gian phòng trống trãi nào đó sẽ diễn ra buổi dạ hội huyền diệu của tất cả các nhà thơ Odessa.
Xiêng chéo suốt toàn bộ tờ áp phích có dòng chữ màu đen in bằng những chữ cái lớn:
“!Cuối buổi dạ hội sẽ đánh nhà thơ Georgia Shengeli!”
Phía dưới ai đó đã viết thêm trong dấu ngoặc kép: “Nếu ông ấy dám đến”.
Vé vào dự buổi dạ hội này khá đắt. Chúng được bán hết trong vòng ba giờ.
Izia cho rằng trước khi in dòng chữ dưới tấm áp phích người ta đã hỏi ý kiến Shengeli và được anh ấy đồng ý.
Nhà thơ Georgi Arkadevich Shengeli là một người đàn ông hiền từ, nhưng có vẻ bề ngoài hơi kỳ dị. Tôi không thể nào hiểu được cách đối xử có phần nào ác ý của một số nhà thơ Odessa đối với anh ấy. Nghe tôi thắc mắc Bagritsky trả lời một cách khó hiểu. Cuối cùng thì tôi nghĩ rằng sự thù ghét đối với Shengeli là một trò đùa văn chương. Nó mang đến sự nhộn nhịp thêm cho cuộc sống thi ca của Odessa.
Theo tôi, Shengeli tự nguyện tham gia vào trò đùa này và anh tỏ ra mình là một đối thủ bình tĩnh hơn so với bản chất thực tế của anh, như một người La mã chính gốc.
Khuôn mặt mỏng của Shengeli lúc đánh nhau với các nhà thơ Odessa trở nên trắng bệch và trông như tạc bằng đá cẩm thạch. Izia bảo rằng bức tượng nửa người của Shengeli có thể dùng để trang trí cho Hội trường nghị viện La mã.
- Hoặc có thể đặt ở Viện Panteon được không? – anh ấy ngập ngừng hỏi tôi, và trong ánh mắt anh xuất hiện nổi lo lắng.
Shengeli người cao lớn, đôi mắt sáng long lanh như thanh niên. Anh dạo khắp phố Odessa với chiếc mũ li-e của người miền nhiệt đới trên đầu và đi chân đất. Với cái vẻ bề ngoài như thế Shengeli có một kiến thức uyên bác, anh sáng tác những bài thơ tao nhã, dịch thơ của các thi sĩ Pháp và là một con người có thiện cảm với mọi người và có giáo dục.
Những phẩm chất này của Shengeli làm cho anh trở thành xa lạ đối với nhiều nhà thơ Odessa – những chàng trai chủ tâm sống phóng khoáng, như những người rất trí thức và khoan dung, tự hào về việc không dính dáng vào bất kỳ những "trò xảo trá" nào, đặc biệt là những tội giết người.
Lần đầu tiên tôi gặp Shengeli ở Moskva vào thời kỳ đầu chiến tranh thế giới trong buổi ngâm thơ của Igor Severianin. Anh ngâm những bài thơ của mình trong những phút giải lao giữa các buổi đọc thơ của chính Severianin. Đó là những bài thơ về vùng Kertch quê hương sỏi đá của anh, về vùng đất cổ, nơi trong "tầng đất sét lầy lội yên nghỉ những bộ lạc tiền sử Sarmaty, những người dân Skif, những bộ lạc người Tiuk, người Vendy, - và những câu chuyện truyền thuyết giày vò mãi không thôi".
Anh ấy nói về mình:
Tôi mang trong người hơi thở sóng triều dâng.
Và dòng máu tôi lúc nào cũng được sưởi nóng
Bởi chỉ cùng một hơi ấm với biển phương nam…
Lúc nào tôi cũng có cảm giác như mình có thể làm được một số nghề khác như: đi biển, khảo cổ học, hoặc khám phá lại lần thứ hai những vùng đất đã được phát hiện từ lâu, cũng với niềm say mê như say mê nghề viết văn.
Khảo cổ học là một khoa học về thời cổ đại. Từ lúc còn bé thời cổ đại đối với tôi đã thể hiện trong cơn gió thổi băng băng qua cánh đồng cỏ dại, trong những vùng đất nứt nẻ vì khô hạn, cằn cỗi không người, nơi cũng cơn gió như thế thỉnh thoảng lại mang đến không khí mát mẻ của vùng duyên hải cách đó không xa, trong viên gạch tráng men vỡ được tạo ra bởi những bàn tay gầy gò xám ngắt của thợ đồ gốm Iran, và cuối cùng là trong chiếc ống đất sét màu đen có hình dạng giống mũi chiếc tàu thủy Akhei bị đánh đắm bởi quân Zaporozh gần các hồ nước mặn Perekop. Tôi luôn luôn bị hấp dẫn bởi màu sắc của vùng đất cổ xưa – khắc nghiệt, có màu gỉ của quặng sắt.
Lúc nào tôi cũng tự hình dung như vậy về những miền đất cổ xưa. Khi lần đầu tiên nhìn thấy những vùng này tôi rất thích thú về việc so với điều tôi hình dung thì trong thực tế còn có nhiều hơn những màu sắc chứng minh cho tuổi thọ lâu đời của trái đất.
Tôi khẳng định được điều này khi đặt chân đến một quần đảo ở Thổ nhĩ kỳ và Ý. Ở đó mùi gỉ sắt của đất loang ra rất xa trong bầu không khí màu chàm vào buổi bình minh heo hút và trong cái tĩnh lặng mịt mờ của màn đêm. Thời cổ đại bị bao phủ trong nhiều mảng màu và sắc thái, gắn kết màu sắc của đá với tán lá ôliu và gắn kết ánh hoàng hôn vàng sẫm với bầu không khí ban đêm màu tím giàu iôn.
Những màu sắc hiếm hoi ít gặp của thời cổ đại phù hợp với miền nam nhiều hơn so với miền bắc. Ở đó chúng dễ nhận ra hơn. Ở đó chúng thường dễ bắt gặp hơn.
Ở đâu đó tại Roma qua ô cửa sổ bạn nhìn thấy một tòa nhà khách sạn như một màn hạt mưa nhân tạo làm từ những ống mạ niken quay tròn trên các thảm cỏ xanh tươi, và cũng ở đó bạn sẽ nhìn thấy một vùng đất cổ ngay sát bên cạnh, dù chỉ là trên đấu trường Colosseum[1] hoành tráng.
Nó cũng tưởng chừng rất cổ kính như bầu trời trên thành Roma, trên những ngọn núi Apennin[2] cận kề, trên Calabria[3] cháy sém thành bụi xi măng.
Calabria tỏa khí nóng oi ã, như một đám cháy khổng lồ khi trời lặng gió. Bờ biển Calabria có mùi viên đá lửa sau khi va đập tóe ra tia lửa. Và nếu như không có vùng nước biển trong lành đặc quánh màu tím bao quanh đất nước khô cằn này thì quang cảnh của nó sẽ làm cho chúng ta rùng mình, như nhìn thấy địa ngục.
Về thực chất, cảm giác về sự cổ kính không có gì khác cảm giác về sự vĩnh hằng, cảm giác về các kỷ nguyên đã trôi qua trên trái đất, và cảm giác về tương lai. Cho dù ở đó có xảy ra điều gì đi nữa thì con người vẫn không ngừng tư duy và nhìn thấy trong trí tưởng tượng của mình những bước tiến triển của quá khứ và tương lai. Chẳng hiểu vì sao cái cảm giác về thời gian thể hiện rõ ràng trên các vùng bờ biển.
Tôi đã lạc đề câu chuyện, nhưng bây giờ có lẽ phải đành chấp nhận và nói vài lời về cái cảm nhận về biển và những bờ biển thực chất nó như thế nào.
Có thể nhìn thấy biển từ trên boong tàu của chiếc tàu thủy vượt đại dương và từ trên mặt boong thấp của chiếc sà lan đánh cá.
Từ trên mặt boong của chiếc sà lan bạn không những chỉ nhìn thấy biển ở khoảng cách không xa, mà còn có thể ngửi thấy cả mùi nước biển nồng nặc ở rất gần lúc sà lan lướt qua bên cạnh những tảng đá ngầm. Những tảng đá này bỗng hé lộ ra khi dòng nước chảy qua chúng và làm hiện lên lớp rong biển rậm rịt bám trên đó.
Và thế là chỉ trong khoảnh khắc – từ gợn sóng này sang gợn sóng khác – rong biển bốc lên mùi hăng hắc, và bạn có thể hít cái mùi đó vào đầy phổi – đến chóng cả mặt, hoa cả mắt.
Từ trên những mặt boong cao của những chiếc tàu thủy lớn không ngửi thấy mùi của biển. Mùi biển bị át đi bởi mùi dầu máy, mùi thuốc lá và mùi nước thơm dùng trong các nhà vệ sinh.
Cảm nhận thực sự về biển chỉ tồn tại ở những nơi mà các mùi vị của biển nồng nặc trong cái nóng tinh khiết và kéo dài. Chẳng hạn ở Ialta hầu như không có mùi của biển. Ở đó sóng vỗ vào bờ bốc lên mùi những mẩu thuốc lá hút dở ngấm nước và mùi vỏ quýt, chứ không phải là mùi của những đê chắn sóng bằng đá bị nung nóng, mùi của những sợi dây neo cũ, mùi của cây xạ hương, mùi của những quả thủy lôi han gỉ sản xuất vào năm 1912, trôi tấp lên bờ, mùi của những ván mạn tàu ngâm nước mặn, và mùi tấm lưới đánh cá màu hồng.
Như vậy là mùi của biển chỉ có ở những hải cảng như cảng Kertch, cảng Novorossisk, Feodosia, Mariupol hoặc cảng Skadovsk.
Có những bờ biển nghỉ mát với những quầy hàng màu xanh bán kem, những bức tượng thạch cao hình nữ vận động viên và hình thiếu nhi, những chiếc mũ chỏm, giày sandal, áo pijama kẻ sọc và những chiếc khăn choàng kiểu tu sĩ. Và có những bờ biển bị nung nóng bởi ánh nắng hàng ngàn năm – bởi ánh phản xạ của khối nước biển khổng lồ phương nam, bởi những dòng không khí nóng – bờ biển sạch sẽ nhất thế giới.
Do có ánh nắng và không khí như thế những bờ biển đó có màu sắc thô thiển – màu hoàng thổ, màu tro và màu nâu đỏ như gỉ sắt, - màu sắc của những kỷ nguyên xa xưa, màu sắc của vĩnh cữu. Và vỗ lên những bờ biển han gỉ đó, lên bờ đất sét hóa thạch lộ thiên đó từ thế kỷ này sang thế kỷ khác là vô số những con sóng không thể nào đếm được.
Nhiều vô kể những mùi vị, âm thanh và màu sắc của biển ngày nay. Nếu như tôi có thời gian và nếu như tôi không bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi về việc làm mất sự cân đối của bài viết, thì tôi sẵn sàng linh động để mở rộng hơn dung lượng của tập sách này.
Tôi buộc phải thừa nhận rằng tôi có thể đọc với niềm say mê như thế sổ tay du lịch quanh Thổ nhĩ kỳ, “Những bức thư từ Tây ban nha” của Botkin và nhật ký của Miklukho-Maklai[4], như đổ cát biển lên lòng hai bàn tay, vừa để cho toàn thân được thư giãn, vừa để cho ngọn gió liên tục dịu dàng vỗ những bàn tay ẩm mát của nó lên má tôi. Tưởng chừng như cơn gió cũng vui mừng trên bãi tắm vắng vẽ - kéo dài đến tận những doi đất mờ xanh, những doi đất ở phía chân trời đang hút nước biển như những con gấu, - không một bóng người nào ngoài tôi.
Cứ để cho đám cỏ cứng xào xạc suốt ngày trên các bờ dốc. Tiếng xào xạc dịu êm đó – có tự ngàn xưa – vang lên trên những bờ biển này từ thế kỷ này sang thế kỷ khác và nói cho chúng ta biết về đạo lý và sự hồn nhiên.
Tôi cùng với Izia và Iasha Lifshits phải vất vả lắm mới chen được vào phòng dạ hội của các nhà thơ. Ở đó, trong tiếng ồn ào khủng khiếp, tiếng cười đùa và tiếng huýt gió khe khẽ, nhà thơ Tchecherin đang gào lên những bài thơ của mình bằng cái giọng trầm cục mịch.
Tiếng ồn ào lắng đi chút ít khi nhà thơ Vladimir Narbut – một người đàn ông có hai bàn tay khô ráp và khuôn mặt vàng võ - bước ra sân khấu. Tôi từng say mê những bài thơ tuyệt vời của ông nhưng chưa một lần nào nhìn thấy ông.
Không để ý đến hội trường đang sôi động, Harbut bắt đầu đọc những bài thơ của ông bằng cái giọng dọa dẫm, nhẫn tâm. Ông đọc lơ lớ giọng Ukraine.
Còn tôi, béo phục phịch đẫy đà,
Chiếc áo quan bao năm phong hóa…
Những bài thơ của ông tạo ra một cảm giác hờn căm khó tả. Nhưng bất ngờ sao khi trong những vần thơ này bỗng xuất hiện những câu dịu dàng xốn xang không ngờ tới:
Tôi muốn nói về bạn, về bạn, về bạn
Bằng những vần thơ thức trắng đêm
Narbut đọc, và phòng họp bỗng im phăng phắc.
Trên sân khấu các thanh niên nam nữ chen chân chật cứng, chiếc mũ hình nón cụt của Valentin Kataev chấp chới đỏ.
Sân khấu rung lên một cách đáng ngờ, thậm chí lắc lư và hình như sắp sập xuống.
- Chẳng lẽ các nhà thơ đều như thế này sao? – Iasha Lifshits hỏi. Anh ấy thường hay đặt ra những câu hỏi ngây ngô. - Ở đây bọn họ đủ cho cả một chính phủ cỡ trung bình của châu Âu.
Shelgeli ngồi cạnh sân khấu trên một chiếc tủ bếp và đặt chiếc mũ lie trên hai đầu gối. Có lẽ những lính lê dương La mã mặt rám nắng và người lấm lem bụi đất đã giữ những chiếc mũ đồng móp méo trong các trận giao chiến ở tư thế như vậy sau khi xông được vào tòa nhà thượng viện.
- Lạy chúa, - Izia thở dài nhẹ nhõm, - anh ấy đã đến. Vụ ẩu đả đảm bảo sẽ xảy ra.
Tiếp theo sau Narbut, đến lượt Kataev đọc một cách miễn cưỡng với giọng khàn khàn những bài thơ của anh về những con cá mù mắt. Nguyên nhân của sự việc này là do những ngư dân ở Sanzheika và Giếng phun Lớn thỉnh thoảng lại đánh bắt được ở biển những con cá mù mắt có nguồn gốc từ trong sông Đa nuýp. Những con cá này bị mù khi bơi lạc từ trong sông nước ngọt ra biển nước mặn. Mọi người thích bài thơ, nhưng không ai vỗ tay hoan hô. Họ chờ đợi cuộc ẩu đả và, có lẽ họ đang giữ sức.
Kirsanov – lúc đó còn là một thanh niên chưa mọc râu, rất hay gây gổ và la hét – lúc nào cũng nhảy cẩng lên mà chẳng có lý do gì liên quan đến những việc xảy ra trên sân khấu, cậu ta đang hét bảo chuyện gì đó với Shelgeli. Nhưng Shegli cứ ngồi im như phổng. Có lẽ Kirsanov bực mình vì điều đó và hắn lại nhảy chồm lên và hét to về phía Shegeli một câu gì đó hỗn láo.
Ngồi sau Kirsanov là một thanh niên to béo với nét mặt ngái ngủ. Mỗi lần như vậy cậu ta lại nắm vạt áo khoác của Kirsanov từ phía sau và kéo hắn ngồi xuống. Chiếc áo bị rách. Kirsanov mắng và ngồi xuống, để rồi chỉ một phút sau lại bật dậy.
Cùng với Kirsanov một số cậu bé khác cũng hò hét ầm ĩ.
Cuộc ẩu đả chưa nổ ra. Sự chờ đợi vô hiệu quả cuộc ẩu đả làm cho cử tọa bực mình. Nó bắt đầu ầm ĩ lên bằng những lời nói giận dữ:
- Tôi không thể nào hiểu được tại sao họ, những nhà thơ này, lại cứ sùng sục lên một cách bất thường như thế? – Iasha Lifshits hỏi. – Có điều gì xảy ra kia chứ? Bầu chọn ông vua của các nhà thơ à? Hoặc phân chia các giải thưởng Nobel? Họ muốn gì nào?
Izia, một người trước đây vốn thích tham dự vào các cuộc tranh luận thi ca, không đáp lại câu nào.
Một nữ diễn viên nào đó bắt đầu ngâm các bài thơ của Mirra Lokhvitskaia. Phải thừa nhận rằng đó là một việc làm thiếu suy nghĩ. Tiết mục ngâm thơ đã làm dấy lên tiếng xôn xao phản ứng. Nhưng không bao lâu sau đó tiếng xôn xao đã biến thành tiếng la hét phẫn nộ:
- Thơ con cóc quỉ quái gì thế!
- Hãy ném cái thân hình mềm mại của Mirra Lokhvitskaia cho quỉ sứ nó tha!
- Tốt nhất hãy ngâm bài “Đêm hít thở niềm khoái trá dục tình”!
Cô diễn viên – vừa vân vê lọn tóc vàng với hai bàn tay xanh xao buông thõng – tựa vào mép bàn và run lên như diễn kịch.
Lúc đó Shegeli đứng bật dậy. Tinh thần hiệp sĩ cố hữu sôi sục trong người anh. Đám đông các nhà thơ cùng với những người bạn gái lôi thôi lếch thếch của họ cười nhạo báng người phụ nữ chẳng có tội tình gì! Thật nhục nhã! Shegeli hét to mấy lời xúc phạm về phía hội trường.
Ngay tức khắc Bagritsky đứng bật lên. Tôi đã tin rằng anh ta sẽ giáng một đòn trí mạng vào địch thủ Shegeli của mình, nhưng Bagritsky quay về phía cử tọa và thực hiện một động tác nhanh nhẹn như vũ bão, tưởng chừng như muốn giáng một cú đấm nốc ao khủng khiếp xuống toàn bộ đám người này. Anh vung mạnh cánh tay phải, hét lên một tiếng man dại, choáng váng và ngã xuống sàn.
Gian phòng họp ồn ào hỗn loạn. Thật khó hình dung được điều gì đã xảy ra. Người ta gọi xe cấp cứu. Không một đường gân nào trên khuôn mặt rung động, Narbut tuyên bố buổi dạ hội kết thúc.
Tại cửa ra dòng người cuồn cuộn bên cạnh những thanh niên nam nữ đang xô đẩy nhau và cãi lộn với nhau đến sùi cả bọt mép. Những tiếng la ó cổ súy và mắng chửi văng ra như những quả bóng bàn, từ đầu đến cuối gian phòng họp loạn xạ người.
Mấy nhân viên y tế lách qua đám đông và khiêng Bagritsky người trắng bệch vì đau vào xe cấp cứu. Anh ấy đã tỉnh lại và vừa nhăn nhó cười vừa nói với chúng tôi:
- Có lẽ mình làm gãy tay mình ở bả vai. Hoặc làm trật khớp… Những thằng miệng còn hôi sữa này thậm chí chưa biết tổ chức một cuộc ẩu đả cho ra trò.
Người ta chở anh ấy đi. Tôi cùng với Iasha Lifshits vượt lên trước các nhà thơ và những người ủng hộ của họ rồi chúng tôi thoát ra phố Pushkin thoáng đãng.
- Thực chất thì cái gì đã xảy ra thế nhỉ? – Iasha lại hỏi. – Một mớ bát nháo ư? Một quán rượu ư? Hay chỉ đơn giản là trò trẻ con? Lại diễn ra vào thời buổi khó khăn như thế này! Thật ngu ngốc!
Iasha đang bực mình. Chúng tôi nhìn thấy Izia và gọi anh ấy.
Vẻ mặt Izia trông chán chường.
- Cuộc ẩu đả đã không xảy ra, - anh nói với vẻ thất vọng. – Lẽ ra họ không nên bày ra cái trò vớ vẩn này và khoác lác rằng chính họ sẽ đánh Shegeli. Thật hạnh phúc cho chúng ta vì công chúng đã không nghĩ ra việc đòi lại tiền vé đã mua.
- Thực chất việc này là thế nào, Izia? – tôi hỏi anh ấy.
Lúc đó Izia mới kể hết bí mật, là buổi dạ hội được tổ chức nhằm trợ giúp những trẻ em không có người chăm sóc. Vào thời kỳ ấy việc trợ giúp này được điều hành bởi Ủy ban thiếu nhi đặc biệt trực thuộc Ban chấp hành trung ương liên bang Nga. Người được ủy quyền của ủy ban đã thỏa thuận với các nhà thơ Odessa về việc tổ chức buổi dạ hội này. Đã đi đến quyết định là đảm bảo toàn bộ tiền thu được sẽ dành để lạc quyên, tổ chức một sự kiện gì đó gây ấn tượng đặc biệt. Người ta đã vò đầu bứt tóc khá lâu để nghĩ ra việc làm cách gì để thu hút khán giả.
Một người nào đó trong số các nhà thơ đã đề xuất tạo ra một cuộc xô xát văn chương dẫn đến đánh nhau với Shengeli. Một việc tỏ ra khá mới mẻ và đặc sắc.
Cuộc xô xát đã không thành công vì rất ít các nhà thơ tán thành ý định này. Nhưng dù sao sao vé dự dạ hội đã được bán hết, và người được ủy quyền của Ủy ban thiếu nhi đã rất hài lòng. Thậm chí ông ấy còn mong sẽ tổ chức tiếp buổi dạ hội như thế này.
*
Trên phố Gavannaia vừa khai trương một sòng bạc. Toàn bộ doanh thu của sòng bạc này đều dành để trợ giúp các trẻ em không người chăm sóc. Trong sòng bạc người ta chơi một bàn quay dạng đặc biệt – những con quay đỏ đen - “Ptishvo”.
Có lần tôi đã đến đó cùng với Torelli. Khói thuốc lá mù mịt như một bầu trời phân lớp. Cặn bia lóng lánh trong những chiếc vại mờ đọng lại cùng những mẫu thuốc hút dỡ. Những cậu thanh niên mặt nhợt nhạt, khoác trên người những chiếc áo sĩ quan hải quân đang lặng lẽ và cau có chơi bài.
Người hồ lì – một cụ già cầm một dụng cụ có đột lỗ lờ mờ do Anh sản xuất – đang thao thao bất tuyệt không lúc nào ngừng nghỉ, bằng cái giọng ống bơ gỉ:
- Trò chơi đã xong! Đặt tiền cửa nữa không nào! Anh công dân, hãy bỏ bàn tay của anh ra khỏi bàn đi. Nó làm cho tôi khó thao tác chút ít. Bỏ xuống đi! Lúc còn chưa muộn. Xin mọi người đừng phát ngôn thiếu tao nhã. Các bạn đang ngồi trong công sở, chứ không phải trong nhà thổ. Thưa các công dân đánh bạc! Tôi kết thúc trò chơi cho đến khi nào anh chàng người Urkan kia chưa xéo khỏi chỗ này. Các vị dùng lời nói của mình để tác động đến hắn đi! Hay để tôi gọi cảnh sát. Đủ rồi! Kết thúc! Sẽ không chơi nữa! Các vị thu lại tiền đặt cửa của mình đi! Casino đóng cửa!
Lúc đó một thanh niên to khỏe nào đó đội chiếc mũ kêpi ca rô và quấn khăn quàng lông đứng dậy, với ống điếu ngậm ở mồm, bước đến chỗ anh chàng người Ukran, lặng lẽ tóm ngực cậu ta, kéo khỏi chiếc ghế (việc này tất nhiên làm chiếc ghế đổ đánh rầm xuống đất), lôi tay hắn ra phía cửa và xô ra ngoài đường. Bên trên cánh cửa một chiếc chuông cửa từ thời trước cách mạng kêu leng keng với vẻ sợ hãi. Trong thời gian diễn ra cảnh tượng này chỉ nghe thấy tiếng thở phì phò mệt nhọc của hai người – anh thanh niên và cậu bé người Ukran.
Anh thanh niên quay trở lại bàn. Người hồ lì nói với anh ấy:
- Merci beaucoup[5], anh bạn trẻ! Tôi đánh giá cao lòng dũng cảm của anh. Cuộc chơi tiếp tục nhé. Hãy đặt cửa mạnh dạn hơn. Suy tính càng lâu thì càng rối trí và bỏ lỡ số phận may mắn – con gà tây của mình. Hay còn gọi là đồng cô pếch? Các bạn vẫn nói thế phải không?
Còn anh chàng bị đuổi ra vẫn đứng trên vỉa hè, tóm tay những người đi vào casino và van vỉ họ:
- Hãy nhổ vào mặt tôi đi, tôi sẽ là một thằng đê tiện nếu không trả thù cái thằng Iurka từ khu cảng Arbuz đó, và không xẻo mũi lão hồ lì mặt rỗ này! Cậu đi đâu đấy? Tôi yêu cầu cậu, anh bạn trẻ ạ, hãy làm nhân chứng cho tôi. Chà, cậu không có thì giờ à? Dù sao tôi cũng khẩn khoản đề nghị cậu!
Vừa nói hắn vừa cởi cúc chiếc áo vét và bắt đầu ưỡn bộ ngực khò khè đồ sộ về phía người qua đường.
- Vậy thì hãy đưa đây dù chỉ năm ngàn cũng được, - hắn nói nhỏ bằng cái giọng tin cậy của người say rượu. – Từ số tiền đó tôi sẽ làm thành tiền triệu. Chia cho cậu một nửa. Đừng để cho người khác phải đi đến bước đường cùng.
Khó khăn lắm mới thoát khỏi hắn. Mọi người đành đưa tiền đấm mõm cho hắn.
Tôi và Torelli cũng phải đấm mõm cho hắn. Số tiền chúng tôi còn lại đều thua hết sau một ván bạc. Khi đó ông già hồ lì vừa nhăn mặt vì khói thuốc vừa nói một cách lạnh lùng:
- Tôi chẳng thấy các cậu mạo hiểm tí nào. Một việc làm bình thường thôi mà, các trang công tử!
Chúng tôi ra về, thấy mình bị xúc phạm. Sau đó tôi còn đến casino mấy lần nữa, nhưng không đánh bạc. Tôi quan sát ông già hồ lì. Cái làm cho tôi quan tâm trong con người ông là sự lịch thiệp xấc láo, khinh thường mọi người và sự thô bỉ quá mức. Tôi muốn tìm hiểu xem trước đây ông già này làm nghề gì. Torelli nói với tôi đó là một cựu ca sĩ giọng nam trầm của nhà hát kịch nói. Thậm chí có lần Torelli còn nghe ông ta sắm vai Mefistofel.[6]
[1] Đấu trường La Mã được biết đến đầu tiên dưới cái tên Amphitheatrum Flavium theo tiếng Latinh hoặc Anfiteatro Flavio tiếng Ý, sau này gọi là Colosseum hay Colosseo, là một đấu trường lớn ở thành phố Roma. Sức chứa lúc mới xây xong là 50.000 khán giả. Đấu trường được sử dụng cho các võ sĩ giác đấu thi đấu và trình diễn trước công chúng. Đấu trường được xây dựng khoảng năm 70 và 72 sau Công Nguyên dưới thời hoàng đế Vespasian. Đây là công trình lớn nhất được xây ở Đế chế La Mã, hoàn thành năm 80 sau Công Nguyên dưới thời Titus, với nhiều chỉnh sửa dưới thời hoàng đế Domitian (ND).
[2]Apennin - dãy núi ở miền trung Italia (ND)
[3] Calabria hay Bruttium, là một vùng ở miền Nam Italia, phía nam Naples, nằm ở vị trí "ngón chân cái" của bán đảo Italia (ND).
[4] Nikolai Nikolaevich Miklukho-Maklai (1846 – 1888) — nhà dân tộc học, nhà nhân chủng học, nhà sinh vật học người Nga. (ND)
[5] Merci beaucoup – cám ơn nhiều (tiếng Pháp) (ND)
[6] Mephistophel – tên của một hung thần, quỉ Sa tăng theo truyền thuyết cổ (ND).
"NGÀY KHÔNG BỌT" VỚI HÀ NỘI
chauphanbach | 20 April, 2012 08:06
Cách đây hơn một tháng tôi có nhận được tập thơ NGÀY KHÔNG BỌT của nhà thơ trẻ Minh Đan gửi tặng qua đường bưu điện. Hai bác cháu quen nhau qua blog. Thích giọng thơ trẻ trung, táo bạo, với cách sử dụng từ ngữ có nhiều sáng tạo và bất ngờ, tôi đã giới thiệu một số bài của MĐ trên tạp chí Biển & Bờ, từ đó bác cháu có gặp nhau vài lần khi tôi có dịp vào Sài Gòn.
Cách đây hai hôm tôi nhận được điện thoại của Minh Đan, báo sẽ bay ra Hà Nội công tác vào 19 hoặc 20/4 và nuốn gặp mặt với bạn bè blogger Hà Nội. Một ngày sau thì Lọ Lem Đất Võ thông báo chính thức sẽ đến HN vào 3 giờ chiều 20/4 và thời gian eo hẹp chỉ có thể gặp nhau vào chiều tối 20/4.
Tôi đã gọi điện ngay cho anh Lê Trường Hưởng để báo anh biết thông tin này. Mấy anh em trong câu lạc bộ Bạn & Thơ đã bàn nhau mời Lọ Lem và các bạn blogger HN đến Kim Giang gặp gỡ. Nhưng Minh Đan báo lại là có người chủ trì tổ chức cuộc gặp mặt này rồi. Và blogger Lê Trường Hưởng đã gửi tin nhắn và gọi điện báo cuộc gặp mặt sẽ tổ chức tại 23 Ngọc Khánh vào lúc 18:30 tối nay 20/4.
Các bạn nào quen biết Minh Đan xin mời đến dự.
Đầu trang là chân dung Lọ Lem Đất Võ đăng trên VanVn.net và dưới đây là bài thơ Ngày không bọt trong tập thơ mới NGÀY KHÔNG BỌT do Nhà xuất bản trẻ phát hành tháng 1/2012.
NGÀY KHÔNG BỌT
Ngậm gió
thở hơi em nhú trắng
sương
nụ hôn đồi xanh xanh
thông xanh xanh
rondo * vòng quanh
Thác bọt
ngày không bọt
cao nguyên áo bay
cạn chén
kỷ nguyên
mới…
Dalat, 01/2010
------------------------
(*) một thể loại âm nhạc của Mozart.





Trackbacks (0) | 




