MỘT THOÁNG ĐÀ LẠT
chauphanbach | 28 January, 2012 09:19
Mấy ngày tết ở Nha Trang, chỉ cách Đà Lạt trên 150km mà không lên đó vãng cảnh thì phí hoài. Thế là ngày mồng 5 tết, cả nhà quyết định thuê xe đi Đà Lạt.
10 h khởi hành từ Nha Trang.
12h03 lên đến đỉnh cao 1500m, nơi có một thác nước cao trên Tỉnh lộ 652. Đây là con đường liên tỉnh nối Khánh Hòa với Lâm Đồng. Đoạn đường đèo dốc bên tỉnh Lâm Đồng còn tốt, xe chạy êm thuận. Nhưng đoạn phía Khánh Hòa mới đưa vào khai thác chưa lâu, nghe bác tài bảo chỉ khoảng một nắm, mà mặt đường hỏng hết, đang phải bóc lên làm lại. Không hiểu do công ty nào trúng thầu thi công! Bác tài bảo đường hỏng nhanh như vậy là do tham nhũng thôi! Đường đi qua vùng đồi núi, địa chất nền tốt thì trình độ kỹ thuật có yếu mấy cũng không thể làm cho đường chóng hỏng như thế được.
12h41 - Qua đèo một đoạn nhìn thấy ngôi nhà rông của đồng bào dân tộc, bảo bác tài dừng lại chụp bô ảnh:
Sau khi dừng lại ăn trưa tại Đà Lạt, bắt đầu cuộc dạo chơi Đà Lạt. 14h34 Xe đi một vòng quanh hồ Xuân Hương:
14h44 đến thưởng ngoạn thác Datanla. Xuống chân thác bằng được xe trượt. Mỗi xe ngồi hai người. Xe xuống dốc tự chạy nhờ lực trọng trường. Đường chạy ngoằn nghoèo như một trò chơi mạo hiểm. Khách phải nắm cần phanh để hạn chế tốc độ, giữ cự ly an toàn cách xe đi trước 25m.
Đến chân thác ngắm dòng thác từ trên cao đổ xuống trắng xoá, Ai thích và có thời gian thì đi bộ lên ngắm thác. Ngắm đã, lại xếp hàng lên xe trượt để lên đình dốc bãi đổ xe.
Đây là cổng vào khu vui chơi thác Datanla:
15h10 đến chân thác, đứng chụp ảnh dưới bức tượng cô gái Tây nguyến đang cầm bình "rươu" thần chảy mãi không hết:
15h55 đến Trúc Lâm thiền viện Đà Lạt.
Phía trước Trúc Lâm Thiền Viện là hồ Tuyền Lâm:
16h37 - đến tham quan ngôi nhà "điên" - một ngôi nhà có kiến trúc không giống ngôi nhả nào trên thế giới, tác phẩm của kiên trúc sư Đặng Việt Nga, con gái của ông Trường Chinh.
Ở Đà Lạt, ngoài những danh lam thắng cảnh nổi tiếng và con người hiền hòa thì ngôi nhà quái dị tọa lạc tại số 3 Huỳnh Thúc Kháng thật sự thu hút, chinh phục mọi du khách đặt chân đến nơi này.
Biệt thự Hằng Nga hay còn gọi là Crazy house (Ngôi nhà điên), một công trình kiến trúc đặc biệt tại thành phố Đà Lạt vừa được People’s Daily bình chọn là một trong 10 ngôi nhà kỳ dị nhất thế giới. Đây là một trong những quần thể kiến trúc đặc biệt và lạ mắt, được xây dựng từ năm 1990 trên khuôn viên rộng gần 1.900m2 thể hiện nội dung: trong lòng các gốc cây và các phiến đá bị cưa cụt con người vẫn có thể tạo ra những gian phòng ấm cúng, tiện nghi, thậm chí cả những tòa lâu đài huyền bí và hấp dẫn.
Công trình này ban đầu có tên là biệt thự Hằng Nga, sau đổi thành Crazy house, Ngôi nhà mạng nhện hay Ngôi nhà kỳ dị vì tên gọi cũ bị một số nơi khác sử dụng theo. Crazy house đã gây tranh cãi trong giới kiến trúc và các cơ quan chính quyền cũng như sự chú ý đặc biệt của du khách trong suốt 18 năm qua. Nó không theo trường phái kiến trúc nào, hoàn toàn tự do như chính chủ nhân của nó. Trông ngôi nhà như những gốc cây, hang động giữa rừng già nhưng bên trong lại có những căn phòng đủ tiện nghi như một khách sạn hạng sang. Ngôi nhà hấp dẫn du khách bởi những ô cửa lồi, lõm, những góc cạnh, đường cong uốn lượn, những hình thù kỳ lạ…
Phá cách với lối kiến trúc theo trường phái thể hiện cá tính, ngôi nhà trông tựa như những gốc cây hoặc một phần cơ thể của những con thú hoang dã. Những ô cửa sổ lồi lõm xếp đặt có vẻ thiếu “ngăn nắp” nhưng nhìn kỹ thì như những con mắt của thú rừng. Từ trên cao, du khách có thể ngắm nhìn khu vườn trong biệt thự qua một tấm mạng nhện khổng lồ bằng sắt ở ngay lối vào. Bước tiếp qua những bậc thang xoắn quấn quanh gốc cây, du khách được chiêm ngưỡng và khám phá những căn phòng ấm cúng với hình thù đặc trưng của thiên nhiên như hốc cây, thân tre, quả bầu, cọp, gấu, đại bàng, kangaroo, chim trĩ…
Tiến sĩ – kiến trúc sư Đặng Việt Nga, chủ nhân ngôi nhà thì chia sẻ, thiên nhiên đang bị tàn phá từng ngày, bằng tiếng nói của kiến trúc, chị muốn kéo con người trở về với thiên nhiên, gần gũi và yêu mến nó chứ không phải hủy diệt… Biệt thự Hằng Nga cũng thể hiện sự sáng tạo, phong cách sống và làm việc của chị. Đó là ở mỗi con người đều có lòng khát khao hướng đến độc lập và tự do.
Kiến trúc sư Đặng Việt Nga tốt nghiệp ĐH Kiến trúc Matxcơva (1959-1965), từ 1969 đến 1972 tiếp tục học và lấy bằng tiến sĩ tại Nga. Bà sống và làm việc tại Đà Lạt từ năm 1983 đến nay. Bà cho biết rất yêu Đà Lạt. Chính phong cảnh đẹp, không khí trong lành, con người hiền hòa và sự yên tĩnh nơi đây đã ảnh hướng lớn đến quyết định thực hiện ngôi nhà. Bà muốn ở lại đây đến cuối đời và thực hiện ước mơ của mình bằng sự đam mê trong sáng tạo nghệ thuật kiến trúc.
Năm nay đã ngoài tuổi 70, nhưng bà Việt Nga vẫn tâm huyết để theo đuổi những ý tưởng “lập dị” của mình. Bà đang tiếp tục hoàn thiện các hạng mục dở dang như: nhà rông Tây Nguyên với nhiều màu sắc sặc sỡ dựa theo mô-típ trang phục của phụ nữ các dân tộc, hệ thống cầu thang dây leo, phòng triển lãm tranh, ảnh, kiến trúc của các nghệ sĩ Lâm Đồng bên trong dãy núi. Bà mong ước mở rộng diện tích quần thể kiến trúc này lên 9.000 m2, biến nơi đây thành khu bảo tồn thiên nhiên thực thụ, xen lẫn những công trình kiến trúc đặc trưng của núi rừng Đà Lạt. Để thực hiện được ý tưởng này, bà cho biết cần một số vốn khoảng 100 tỷ đồng.
Yêu thiên nhiên và đam mê sáng tạo nghệ thuật kiến trúc, sống với tâm huyết và ước mơ cho đời bằng chính sự nổ lực không mệt mỏi và tài năng của mình, tiến sĩ – kiến trúc sư Đặng Việt Nga luôn tìm ra một lối đi riêng cho mình, dám nghĩ dám làm , cống hiến và góp phần tô đẹp thêm cho cao nguyên Đà Lạt.
Bên ngoài tòa nhà
Cầu thang đầy sáng tạo

Phòng bán vé vào xem ngôi nhà "điên
17ho6 đến thưởng ngoạn Vườn hoa thành phõ Đà Lạt. Cả một khuôn viên rộng lớn, với hằng hà sa số các loài hoa, được các nghệ nhân bày biện tinh vi, khéo léo. Vừa xem vừa thấy tủi phận cho đường hoa xuân Hà Nội. Giá có ông Vinh, ông Hợp đến đây để ba anh em quay phim, chụp ảnh, dựng các đã hình đưa dự thi ở B&T
RA ĐẢO NGÀY MỒNG 4 TẾT
chauphanbach | 27 January, 2012 09:01
Mồng 4 tết
Chương trình vui tết ngày mồng 4 là đi ra hai đảo Hòn Mun và Hòn Tằm. Sau khi ăn sáng ở khách sạn Novotel cả nhà thuê ô tô đến bến tàu du lịch Bảo Đại. Tại đấy chuyển sang ca nô cao tốc ra Hòn Mun.
Hòn Mun nằm ở phía nam vịnh Nha Trang, Hòn đảo nhỏ này ược gọi là Hòn Mun vì phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác.
Do địa thế của đảo rất gần với dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo đưa tới nên thích hợp với điều kiện phát triển của san hô và nhiều loại sinh vật biển nhiệt đới cũng về đây quần tụ, đáy biển vùng Hòn Mun là một tập hợp quần thể sinh vật biển phong phú, đa dạng, là nơi quan sát, nghiên cứu rất lý thú, bổ ích cho các nhà nghiên cứu sinh vật biển, hải dương học và du khách muốn tìm hiểu về biển.
Hòn Mun là điểm lặn biển đẹp nhất nước so với những nơi đã được đưa vào khai thác du lịch lặn biển. Nơi đây có 9 điểm lặn, san hô tập trung và có mặt hầu như đủ các loại san hô trên thế giới.
Lặn biển, xuống độ sâu cỡ 10 mét, nhìn thấy quang cảnh kỳ tuyệt của dãy san hô, khách cứ tưởng là cũng đã biết nhiều về thủy cung, nhưng các hướng dẫn viên cho biết đó chỉ như “thám hiểm một khu rừng mà chỉ mới đi vào bìa rừng”.
Đến đây đoàn chia làm hai nhóm. Những người đủ sức khỏe thì mặc đồ lặn, đeo bình oxy để lặn xuống biển ngắm san hô và cá, những người có vấn đề về sức khỏe thì đành ngồi trên tàu có đáy kính để ngắm qua kính. Tất nhiên ông già bị bệnh tim mạch như mình thì đành gia nhập nhóm thứ hai. Đó quả là điều đáng tiếc, nhưng lực bất tòng tâm thì đành chịu vậy. Đồ nghề lặn khá phức tạp, gồm bộ quần áo lặn, kính mắt, chân vịt và cả chiếc bình hơi 13 ký cùng dây nịt bằng chì để cho đủ sức nặng chìm xuống nước.
Sau hơn một giờ ngắm cảnh thủy cung ở Hòn Mun, đoàn lại lên tàu đến Hòn Tằm.
Hòn Tằm nằm phía Nam vịnh Nha Trang và cách bờ biển 5km. Đây thực sự là một khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái quyến rũ và hấp dẫn nhất Việt Nam nói chung và Nha Trang riêng. Hòn đảo này vẫn còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với khu rừng nhiệt đới xanh thẳm và một bờ biển mênh mông xanh trong. Những khu vườn xanh mát của Hòn Tằm cuốn hút các giác quan nhờ sự phối hợp đầy tính nghệ thuật của thiết kế kiến trúc và những thực vật đầy hương sắc được lựa chọn kỹ.
Hôm nay du khách đến Hòn Tằm khá đông. Nhân dịp nghỉ tết dài ngày người từ nhiều vùng trên khắp nước đổ về Nha Trang. Khách đến nghĩ dưỡng vui chơi ở Hòn Tằm còn có một lượng không nhỏ là người Nga. Mình có hỏi chuyện một đôi bạn trẻ, họ cho biết họ đến từ vùng Simbirsk, ở đó hiện giờ nhiệt độ âm ba mươi độ. Nên sang đây được hưởng không khí ấm áp trong lành họ vô cùng thích thú. Cô gái lội ra biển đứng tạo dáng cho chàng trai chụp ảnh. Mình cũng chớp thời cơ chụp vài pô.
Hòn Tằm Resort tự hào được xem là “khu nghĩ dưỡng Xanh” thân thiện với môi trường nhưng vẫn tạo cảm giác thoải mái trong không gian đẳng cấp, hiện đại cho những vị khách khó tính nhất. Đến với Hòn Tằm Giúp ta như được thoát khỏi những xô bồ của cuộc sống hiện đại, thư thái tâm hồn để cảm nhận thiên nhiên và con người đủ sắc tộc đủ màu da thân thiện.

Trên ca nô từ đảo Hòn Mun sang Hòn Tằm

Cô gái Nga đang tạo dáng trên bãi biển Hòn Tằm

Cô gái Nga đang tạo dáng trên bãi biển Hòn Tằm

Ca nô đang từ khu bến du lịch Bảo Đại ra Hòn Mun

Trên bến tàu du lịch Bảo Đại - Nha Trang
Trên bến tàu du lịch Bảo Đại - Nha Trang
Hai bà thông gia trên ca nô ra đảo
NHA TRANG NGÀY MỒNG 3 TẾT NHÂM THÌN
chauphanbach | 26 January, 2012 08:45
Sáng nay, buổi sáng cuối cùng ở Vinpearl, quyết định lên viếng Trúc Lâm Tịnh Viện. Cả nhà vẫn còn đang ngủ, một mình xách máy ảnh, máy quay ra khỏi khách sạn, lên viếng cảnh chùa. Đi bộ dọc theo bờ biển, đến chân núi đẩu bờ bắc đảo Hòn Tre, theo một con đường dốc đã được xây đá lên núi. Túc tắc 157 bậc đá là đên ngôi chùa ở lưng chừng núi.
Trúc Lâm tịnh viện tọa lạc trên đảo Hòn Tre, phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Trúc Lâm tịnh viện đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập và trao kỷ lục vào ngày 24-5-2009 là ngôi chùa trên đảo lớn nhất Việt Nam.
Ngôi tịnh viện có mặt tiền hướng Đông Bắc, nhìn ra biển Đông, mặt hậu Tây Nam dựa vào vách núi. Từ ý tưởng tạo lập vườn thiền của Thượng tọa Thích Minh Thông trùng hợp với ý tưởng kiến tạo ngôi già lam trên đảo của các Phật tử Phạm Nhật Vượng, Phạm Nhật Vũ ... thuộc Tổng Công ty Du lịch và Thương mại Vinpearl và Tập đoàn An Viên, sự chứng minh của chư vị Hòa thượng lãnh đạo Phật giáo tỉnh Khánh Hòa: Thích Thiện Bình, Thích Chí Tín, Thích Trí Tâm, ngôi tịnh viện đã được khởi công xây dựng vào ngày kỷ niệm đức Phật Thích Ca Thành đạo (ngày 8 tháng Chạp năm Bính Tuất) Phật lịch 2.551 (26-01-2007). Đại lễ khánh thành tịnh viện đã được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa tổ chức trang nghiêm, trọng thể vào ngày 26 tháng 8 năm Mậu Tý, Phật lịch 2.552 (25-9-2008).
Ngôi tịnh viện được xây dựng theo kiểu kiến trúc chữ "Quốc", kiểu kiến trúc truyền thống chùa miền Bắc, lợp ngói mũi hài, mái mũi thuyền, đầu đao với hạc, lân quy ... Toàn bộ công trình làm bằng gỗ lim chạm trỗ hoa văn tứ linh, tường xi măng, tam cấp lát đá Ninh Bình; tượng thờ và hoành phi, câu đối bằng gỗ sơn son thếp vàng. Với diện tích 44,9m (chiều dọc) x 27,3m (chiều ngang), tịnh viện có nhiều công trình được xây dựng như: Đại hùng bảo điện, Hậu Tổ, Tây lang, Đông lang; miếu Địa Tạng, nhà Tăng ... Đặc biệt, nổi bật trong không gian kiến trúc của tịnh viện là tượng đài lộ thiên Quan Âm Nam Hải tay phải cầm cành dương, tay trái nâng tịnh bình với dáng điệu uyển chuyển, uy nghiêm, nét mặt từ bi, nhân ái nhìn ra biển cả. Tượng bằng đá bạch thạch Nghệ An cao 8m, chân đài đế tượng hình ngọn sóng cao 4,3m bằng xi măng cốt sắt (tổng chiều cao của tượng đài là 12,3m) được tôn trí trong hoa viên bên phải ngôi tịnh viện.
Chính diện ngôi tịnh viện có Tam quan cổng biểu và hậu diện có Tam quan cổng mái trông uy nghiêm và cổ kính.
Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Hệ thống tượng thờ trong tịnh viện mang phong cách và được bài trí theo mẫu của những ngôi chùa cổ ở miền Bắc, tất cả được tạo tác bằng gỗ do những nghệ nhân ở những làng nghề nổi tiếng thực hiện. Tòa bái đường đặt thờ tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện, Hộ Pháp Trừng Ác; tượng Bát Bộ Kim Cương; tượng Thánh Tăng A Nan, tượng Đức Ông Cấp Cô Độc. Nội điện đặt thờ nhiều bộ tượng Phật, Bồ tát ở án thờ giữa: Tam Thế Phật, Di Đà Tam Tôn, Thích Ca Tam Tôn, Di Lặc, Thích Ca Đản sanh ... Án thờ hai bên vách đặt thờ tượng Bồ tát Quan Âm Nam Hải, Bồ tát Quan Âm Tống Tử và bộ tượng Thập Điện Minh Vương. Đông lang và Tây lang ngôi tịnh viện đặt thờ bộ tượng các vị Tổ Thiền Tông. Ngoài hệ thống tượng thờ trang nghiêm được sơn son thếp vàng rực rỡ, được chạm khắc tinh xảo mang tính nghệ thuật cao, trong Đại hùng bảo điện còn trang trí rất nhiều bao lam (cửa võng), câu đối, hoành phi mang ý nghĩa hoằng pháp độ sanh.
Thượng tọa trụ trì Thích Minh Thông đã viết trong bài giới thiệu tịnh viện :"Đứng trên đỉnh núi Trúc Lâm tịnh viện, hướng về Đông, ta có thể tận hưởng gió ngàn lồng lộng của đại dương mênh mông xanh biếc, phóng tầm mắt về hướng Tây là thành phố Nha Trang tráng lệ, xa xa núi non chập chùng hùng vĩ, giữa công trình phố thị hiện đại xen lẫn với cảnh núi rừng và đồng quê thiên nhiên hình thành nên một bức tranh sơn thủy cẩm tú lung linh sắc màu. Với thiên nhiên hữu tình ưu đãi và bàn tay khổ nhọc ngày đêm khai sơn phá thạch để tôn tạo của con người, đã hình thành nên một ngôi già lam tôn nghiêm hôm nay."

Cổng tam quan Trúc Lâm tịnh viện

Tượng đài lộ thiên Quan Âm Nam Hải


Những đao cong, mái ngói trầm mặc, uy nghi bề thế với không gian cổ kính

Đông lang và Tây lang ngôi tịnh viện đặt thờ bộ tượng các vị Tổ Thiền Tông
Khu đất bên trái Tịnh viện đặt hai mươi viên đá khắc tên 20 hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa với đầy đủ tên gọi và tọa độ địa lý.
*
Trưa mổng ba tết trả phòng ở Vinpearl, rời đảo Hòn Tre chuyển sang một khách sạn khác bên thành phố Nha Trang. Đó là khách sạn Novotel, tọa lạc tại 50 Trần Phú – con đường ven biển tấp nập của thành phố. Nhận phòng trên tầng 17 nhìn ra phía biển. Bên kia biển là đảo Hòn Tre với dỏng chữ Vinpearl khổ lớn bằng đá trắng trên đỉnh núi, đứng bên này thành phố vẫn đọc được rõ ràng.

Chụp pô ảnh kỷ niệm khu du lịch Hòn ngọc Việt “Vinpearl”

Các thành viên trong gia đình trước cửa khách sạn Vinpearl

Tạm biệt nhé, cô bé nghệ nhân thêu tranh trong tiền sảnh Vinpearl

Đảo Hòn Tre với dòng chữ Vinpearl nhìn từ tầng 17 khách sạn Novotel
MỒNG HAI TẾT Ở VINPEARL - NHA TRANG
chauphanbach | 25 January, 2012 10:58
5h30 sáng mồng hai tết thức giấc, mở cửa ra ban công ngắm nhìn biển Nha Trang trong buổi bình minh.
Xuống tiển sảnh. Phần lớn du khách vẫn còn trong giấc ngủ say bởi cái không khí trong lành mát mẻ của biển.
Đi dạo một vòng quanh hồ bơi rộng lớn trong khuôn viên khu Vinperl Resort. Nước hồ trong vắt, lăn tăn trong gió biển. Chưa có khách ra hồ. Các nhân viên phục vụ đi quanh hồ, lau dọn từng chiếc giường nằm quanh hồ.
Ra bờ biển đi dạo một vòng, đến chân ngọn núi phía bắc đảo. Trên bãi biển chỉ lác đác vài du khách đang đi, chạy bộ tập thể dục buổi sáng. Các nhân viên khách sạn đi dọc biển thu dọn rác do sóng đưa lên bãi cát trong buổi tối triều lên.
Trên lưng chừng núi là ngôi chùa Trúc Lâm Tịnh Viện. Bức tượng Phật bà Quan Âm màu trắng cao 14 mét hiện lên hùng vĩ trên nền trời xanh. Dưới chân núi đá sóng biển xô vào bờ tung bọt nước trắng xóa. Bấm máy quay được cảnh tượng hoành tráng và nên thơ này.
Cũng ở chân núi có một trại nuôi chim công. Một khu đất rộng chừng 100 mét vuông giáp chân núi được vây kín trong lưới sắt. Trong đó chỉ có ba con công. Hai con màu lông xanh sặc sỡ đứng dưới đất. Con công đực vừa đi dạo, vừa thỉnh thoảng xòe bộ lông đuôi hình bán nguyệt đường kính đến hơn một mét. Nó vờn múa, không biết để tập thể dục buổi sáng hay khoe mẽ với con chim mái!
Trên vách núi là một con chim cũng hình dạng giống chim công, nhưng bộ lông trắng tuyền, kể cả chùm lông đuôi cũng dài đến cả mét.
7h30 quay về khách sạn để ăn sáng.
Sau bữa sáng cả nhà kéo đến khu vui chơi của Vinpearl.
Vào tham quan thủy cung Vinpearl.
Thuỷ cung Vinpearl là công trình kiến trúc khá độc đáo, đẹp và lớn bậc nhất tại Việt Nam hiện nay. Công trình dùng hệ thống công nghệ nuôi khép kín, nơi có gần 200 họ, loài sinh vật sinh sống, trong đó có nhiều loài được nhập khẩu, lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam.
Du khách tham quan đi giữa một đường hầm với mái vòm bằng kính trong suốt, ngắm nhìn những sinh vật đủ loại màu sắc tung tăng bơi lượn chung quanh và trên đầu mình. Thỉnh thoảng lại có những thợ lặn với bộ đồ lặn chuyên nghiệp lượn lờ quấn quít cùng bầy cá trong ánh sáng huyền ảo đầy màu sắc, khiến người xem vô cùng ngạc nhiên và có cảm giác như đang được sống cùng đại dương bao la huyền bí. Các thợ lặn vừa bơi vừa lau bể, thỉnh thoảng giơ tay vấy chào khách.
Đường hành lang dài dưới thủy cung có thể đi bộ, hoặc đứng trên đường băng chuyền rất tiện cho những người vừa ngắm cảnh vừa quay phim. Mình đã quay một clip dài cho suốt cuộc hành trình dưới thủy cung. Tiếc là không có thời gian để đưa lên mang.
Dưới đây là những bức hình ghi lại một vài cảnh ven biển khách sạn và dưới thủy cung Vinpearl.

Vịnh Nha Trang sáng mổng hai tết

Hồ bơi trong Vinpearl Resort Nha Trang

Con gái Hồng Anh và cháu gái Thu Anh trong thủy cung

Hành lang cho khách tham quan thủy cung

Hai khách tham quan và hai thợ lặn bên trong
ĐẾN CHỐN THIÊN ĐƯỜNG MIỀN NHIỆT ĐỚI
chauphanbach | 24 January, 2012 13:31
ĐẾN CHỐN THIÊN ĐƯỜNG MIỀN NHIỆT ĐỚI
Lại tiếp tục những chuyến ngao du.
Sáng nay, mồng một tết Nhâm Thìn, cả nhà lại đóng cửa đi chơi Tết. Điểm đến của Tết năm nay được chọn là Nha Trang.
Vé máy bay và khách sạn đã được con gái đặt mua từ nhiều tháng trước.
Mười giờ sáng, từ giả Hà Nội. Thành phố còn ngái ngủ sau đêm thức đón giao thừa. Đường phố vắng lặng. Xe cộ thưa thớt. Sân bay Nội Bài cũng vắng khách. Chuyến bay VN1559 của hãng Vietnam Airline từ Nội Bài đi Cam Ranh vẫn đầy khách.
Sau gần hai giờ bay, du khách đã thoát khỏi bầu không khí rét ngọt của Hà Nội để đến với vùng biển ấm, nhiệt độ không khí 27 độ C.
Xuống sân bay Cam Ranh. Đi đường bộ khoảng 30km về Nha Trang. Ra bến ca nô cao tốc của Vinpearl, đi 10 phút là đến khu nghỉ dưỡng trên đảo Hòn Tre. Nhận phòng 341 trên tầng 3 khu nhà số 8.
Ban công nhìn ra phía biển. Cạnh biển là khu hồ bơi.
Trời xanh. Biển xanh. Nước hồ xanh.
Từng con sóng trắng tíu tít đuổi nhau chạy từ vùng mênh mông xanh vào bờ cát trắng.
Buổi tối, ăn tối với nhiều món tự chọn tại một nhà ăn rộng rãi với đội ngũ nhân viên lịch thiệp và chu đáo. Nhiều khách nước ngoài, trong đó có nhiều người Nga. Giá có nhiều tiền ở đây lâu dài để dịch cho xong bộ hồi ký 6 tập của Paustovsky thì quá tiện: bí từ nào có thể hỏi các bạn Nga.
Dưới đây là vài hình ảnh chụp chiều nay từ căn phòng mình ở:
Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới được thành lập vào tháng 3-1997 tại Berlin với mục đích bảo tồn sinh thái biển, phát triển các loại hình du lịch ở các vùng vịnh một cách bền vững, lâu dài. Tại Hội nghị lần thứ hai của CLB được tổ chức ở Tadousac (Quebec, Canada) từ 1 đến 8 tháng 6/2003, vịnh Nha Trang đã được kết nạp làm thành viên thứ 29 của thế giới, thứ 2 của châu Á (sau vịnh Hạ Long) trong CLB.
Đầu thế kỷ trước, thành phố Nha Trang ngày nay còn là một bãi biển hoang sơ với một làng chài vài mươi nóc nhà tranh ở xóm Cồn. Chỉ có duy nhất một ngôi nhà xây 2 tầng lầu màu trắng là nhà làm việc của Bác sĩ Alexandre Yersin (lầu ông Năm). Người đến đây bằng đường biển sẽ thấy ngôi nhà trắng trước tiên, Nha Trang chính là "nhà trắng" được gọi chệch đi.
Đó là cách kiến giải về xuất xứ tên gọi Nha Trang của những người ngưỡng mộ A. Yersin, một công dân đặc biệt của thành phố. Còn theo các nhà nghiên cứu, xưa kia hai bên bờ sông Cái đổ ra cửa biển Cù Huân (Cửa Lớn) đầy lau lách rậm rạp, nên sông được gọi là sông Lau (tiếng Chăm là yjatran hay Ea Tran).
Lâu dần nó được gọi chệch thành Nha Trang. Tên sông sau thành tên đất, rồi được dùng cho cả vịnh biển ôm ấp và làm đẹp cho vùng đất. Được che chắn bởi 19 đảo lớn nhỏ, vịnh Nha Trang rộng chừng 500km2 khá kín gió, không có sóng lớn. Cửa sông Cái đổ ra giữa hai bãi biển hình trăng khuyết, cát mịn mát trải dài hàng 6, 7 cây số. Dưới ánh nắng mặt trời nhiệt đới, màu xanh của những triền núi nhấp nhô trên bờ, của các hòn đảo hoà cùng màu biển biếc, như tôn thêm vẻ quyến rũ của những dải cát vàng dạt dào sóng trắng.
TIẾNG HÉT LÚC NỬA ĐÊM - Paustovsky K.
chauphanbach | 19 January, 2012 20:05
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 3. Bắt đầu một thế kỷ chưa từng có:
>> 1. Xoáy nước
>> 2. Những ngọn đuốc xanh
>> 3. Hiệu cà phê của các nhà báo
>> 4. Gian phòng họp có giếng phun
>> 5. Khu vực tĩnh lặng
>> 6. Cuộc bạo động
>> 7. Tư liệu về lịch sử các biệt thự ở Moskva
>> 8. Vài lời giải thích
>> 9. Toa tàu có lò sưởi trên tuyến đường sắt Riga-Orlovsky
>> 10. Vùng đệm
>> 11. "Vị tư lệnh khố rách áo ôm của chúng tôi"
>> 12. Tia tử ngoại
>> 13. "Chồng em là bôn shevich, còn em là quân Gaidamak"
>> 14. Chiếc quần chẽn màu huyết dụ có đường nẹp
>> 15. Chiếc bánh ngọt nhiều lớp
>> 16. Tiếng hét lúc nửa đêm
TIỀNG HÉT LÚC NỬA ĐÊM
Có lẽ lúc đó đã khuya lắm rồi, khi bốn chung quanh đều chết lặng bởi bóng tối dày đặc và sự tĩnh mịch. Thậm chí nước trong các đường ống gỉ cũng vơi đi và ngừng nhỏ giọt đều đều từ vòi xuống chiếc chậu gang trong nhà bếp.
Vào những đêm tái tê như thế người ta hay mơ thấy những giấc mơ rối mù. Sau đó chúng thường để lại trong lòng sự nhói buốt lâu dài.
Có ai đó đánh thức tôi khá lâu, nhưng tôi không thể nào tỉnh giấc. Nói đúng hơn là tôi không muốn tỉnh giấc và xót xa bắt gặp một tia sáng hoàng hôn lụi tàn trong mớ bòng bong nhớp nháp của nhận thức.
Bỗng một tiếng khóc thổn thức len vào giữa cuộc đấu tranh căng thẳng này với giấc mơ. Tôi mở mắt, ngồi dậy trên giường và nhìn thấy mẹ.
Mẹ ngồi cạnh chân tôi. Mái tóc mẹ xỏa xuống mặt từng búi bạc trắng. Mẹ tựa vào thành giường, khóc thút thít tức tưởi.
- Việc gì vậy? – tôi hỏi nhỏ. – Việc gì xảy ra vậy?
- Khẽ nào, - mẹ vừa nói vừa nuốt nước mắt, - Kẽo đánh thức Galia đấy.
- Nhưng có việc gì xảy ra? Mẹ nói đi.
- Mẹ không biết, - mẹ bối rối trả lời, và đầu mẹ rung lên. Tôi có cảm giác như mẹ phát điên. – Mẹ không biết việc gì đã xảy ra, nhưng có lẽ có việc gì đó khủng khiếp lắm. Con dậy đi và nghe xem. Hãy ra trước ban công.
Tôi mò mẫm ra ban công. Cửa ra ban công đã mở toang. Tôi bước ra, lắng tai nghe và lạnh toát người, - từ đằng xa, phía phố Vasilskovskaia vang ra khắp thành phố, lan gần đến ngôi nhà chúng tôi, tiếng gào khóc khủng khiếp của nhiều giọng nói, tiếng gào khóc chết chóc của vô số người. Không thể nào phân biệt ra từng giọng riêng lẽ.
- Việc gì thế nhỉ? – tôi hỏi trong bóng tối, không nhằm vào ai.
- Một cuộc tàn sát, - bà Amalia bỗng trả lời sau lưng.
Răng bà va vào nhau lập cập. Hình như bà không kìm nén được, và bà có thể lên cơn động kinh ngay.
Tôi lại lắng tai nghe. Chỉ nghe được tiếng gào thét, không có dấu hiệu nào của cuộc tàn sát – không tiếng súng, không tiếng loảng xoảng của kính vỡ, không ánh lửa đám cháy trên các ngôi nhà, - không có những dấu hiệu không thể thiếu của một cuộc tàn sát.
Sau những cuộc tàn sát dã man của quân gadamak tình hình đã yên tĩnh trong một thời gian dài. Sự yên tĩnh đã bắt đầu cả từ thời Denikin. Thỉnh thoảng, nhưng chỉ xảy ra ở những nơi xa các con phố đông người, những học sinh võ quan với cặp mắt đỏ ngầu, cưỡi trên lưng ngựa, hát bài hát họ yêu thích:
Hỡi những kỵ binh đen
Hãy cứu nước Nga, đánh quân Do thái, -
Chính chúng là bọn cảnh sát!
Nhưng sau đó quân đội xô viết đã đánh đuổi quân Denikin ra khỏi Orel và bắt đầu dồn chúng xuống phía nam, tinh thần quân bạch vệ đã thay đổi. Tại các huyện lỵ và thị trấn bắt đầu những cuộc tàn sát.
Vành đai những cuộc tàn sát bao quanh Kiev, và cuối cùng vào cái đêm hôm đó, cái đêm mà tôi đang kể về nó, đã khởi động cuộc tàn sát ban đêm đầu tiên trên phố Vasilkovskaia.
Những kẻ tàn sát bao vây một trong những tòa nhà lớn, nhưng không kịp đột nhập vào nhà. Trong ngôi nhà tối đầy bí ẩn, một người đàn bà hét lên the thé trong nỗi sợ hãi và bất lực, xé toang cái tĩnh mịch báo điều dữ của màn đêm. Bà không thể làm gì khác để bảo vệ những đứa con của mình, chỉ có bằng tiếng gào thét liên tục, không lúc nào ngừng, trong nỗi sợ hãi và bất lực.
Đáp lại tiếng gào thét đơn độc của người đàn bà, cả ngôi nhà đã vang lên tiếng gào thét từ tầng một lên đến tầng trên cùng. Những kẻ tàn sát không chịu đựng được tiếng gào thét này và bỏ chạy. Nhưng chúng không trốn vào đâu được, - vượt lên trước bọn chúng, tất cả các ngôi nhà trên phố Vasilkovskaia và các ngõ phố lân cận đều gào thét.
Tiếng gào thét loang ra khắp nơi, như cơn gió, bao trùm lên những khối phố mới. Điều khủng khiếp nhất là tiếng gào thét đã vang lên từ những ngôi nhà tối đen và tưởng như không người ở, còn các con phố thì hoàn toàn vắng ngắt, lặng im như chết và chỉ có những ngọn đèn lờ mờ và thưa thớt, run rẫy và chập chờn soi đường cho tiếng gào thét nầy.
Sau đó tôi mới biết về việc này. Còn ngay lúc đó, chưa biết có việc xảy ra, tôi bắt đầu mặc vội quần áo để đi đến nơi vang lên tiếng gào thét quặng thắt trái tim. Mẹ cũng bắt đầu mặc quần áo. Mẹ quyết định đi cùng với tôi.
Tôi đi để làm gì, tôi cũng không rõ. Nhưng tôi không thể ở lại trong nhà. Tôi hiểu rằng tôi không thể an tâm nếu chưa biết được nguyên nhân của tiếng gào thét. Sự không biết còn tồi tệ hơn chính mối nguy hiểm tàn ác mà mỗi người phải chịu đựng trên những con phố ban đêm đáng nguyền rủa của thành phố.
Nhưng chúng tôi không ra phố được. Khi chúng tôi đang mặc quần áo thì con phố Fundukleevskaia bên cạnh và ngôi nhà ba tầng sát vách chúng tôi cũng bắt đầu gào thét. Ở đó trong các ô cửa sổ không một ánh đèn nào.
Tôi lại ra ban công và nhìn thấy có mấy người đang chạy trên phố Fundukleevskaia, tránh xa ngôi nhà phát ra tiếng gào thét. Có lẽ đó là những kẻ tàn sát.
Tôi bị xúc động thần kinh. Bên cạnh là bà Amalia đang ngồi dưới sàn, người run lên, hai tay bưng mặt, rên khe khẽ. Mẹ dìu bà ta vào và bắt đầu bôi thuốc cồn cho bà.
Tôi lắng nghe. Tiếng gào thét ở Podol, ở khu nhà Mới, ở Bessarabka, tiếng gào thét ở phắp thành phố rộng lớn. Có lẽ tiếng gào thét này có thể nghe thấy cả ở ngoại ô thành phố. Nó dội lên bầu trời thấp đen kịt và quay ngược lại, đó là tiếng gào xin lòng thương xót và nhân từ.
Tiếng gào thét bùng lên. Ban chỉ huy Denikin lúng túng, không ngờ sự việc xoay chuyển như thế. Các đội vũ trang được cử vào thành phố. Những ngọn đèn đường bật sáng. Sáng ra trên các bức tường đã dán đầy bản mệnh lệnh trấn an của chỉ huy trưởng các đơn vị Denikin. Còn trên báo “Người Kiev” ngay trong ngày hôm sau đảng viên bảo thủ nỗi tiếng Shulgin đã cho đăng một bài dưới tiêu đề “Tra tấn bằng sự khiếp sợ”, trong đó bất ngờ lên án bộ chỉ huy Denikin về việc dung túng những kẻ tàn sát.
Tôi đã từng nghe tiếng gào thét vì sợ hải của từng người riêng lẻ, của một đám đông người, nhưng tôi chưa bao giờ nghe cả một thành phố gào thét. Đó là một việc không thể chịu đựng nổi, khủng khiếp, bởi lẽ từ trong nhận thức bỗng biến mất cái khái niệm quen thuộc và có lẽ là ngây thơ về tính người nào đó cần thiết cho tất cả. Đó là tiếng gào xin, hướng đến những mảnh vỡ còn sót lại của lương tâm con người.
Vâng, hãy để cho con người đôi lúc phải thật sự sợ hãi khi đến với bình đẳng, tự do và hạnh phúc. Và chỉ có niềm tin sâu xa vào thắng lợi của ánh sáng và trí tuệ đối với sự đần độn đen tối mới không để cho nỗi thất vọng khống chế hoàn toàn nhận thức.
Sức mạnh của lương tâm con người dù thế nào vẫn rất vĩ đại, nên đừng bao giờ mất hết niềm tin vào nó.
Cách đây không lâu một nhà văn quen biết đã kể cho tôi nghe một câu chuyện đáng ngạc nhiên về việc này.
Nhà văn này lớn lên ở Latvia và nói giỏi tiếng Latvia. Không bao lâu sau khi chiến tranh kết thúc ông đi từ Riga đến Vzmore bằng xe lửa điện. Ngồi đối diện với nhà văn trong toa xe là một người đàn ông Latvia già, trầm tĩnh và buồn bã. Tôi không rõ cuộc chuyện trò được bắt đầu từ đâu mà trong thời gian đó cụ già đã kể lại một câu chuyện.
- Nào anh nghe nhé, - cụ già nói. – Tôi sống ở ngoại ô Riga. Trước chiến tranh có một người đàn ông nào đó chuyển đến ở cạnh nhà tôi. Anh ta là một con người rất tệ hại. Thậm chí tôi có thể nói anh ta là một con người đê tiện và độc ác. Anh ta làm nghề đầu cơ tích trữ. Chính anh cũng biết đấy, những loại người như thế không có trái tim, không có danh dự. Một số người bảo rằng đầu cơ tích trữ chẳng qua chỉ là sự làm giàu. Nhưng làm giàu trên cái gì? Trên sự đau khổ của con người, trên nước mắt của trẻ em và thông thường nhất là – trên tính tham lam của chúng ta. Anh ta đầu cơ tích trữ cùng với cô vợ của anh ta. Vâng… Và thế rồi bọn Đức chiếm Riga và đuổi tất cả những người Do thái vào trại tập trung nhằm giết đi một số, còn số khác thì làm cho chết dần chết mòn vì đói. Tất cả các trại tập trung đều bị vây kín, và ngay cả con mèo cũng không thể thoát ra khỏi chỗ đó được. Ai đến gần lính gác năm chục bước chân, người ta bắn chết ngay tại chỗ. Những người Do thái, đặc biệt là trẻ em, chết hàng trăm người mỗi ngày, và thế là lúc đó cái anh hàng xóm của tôi nảy ta một ý tưởng kiếm chác được – chất đầy một xe khoai tây, “đưa lót tay” cho lính gác Đức, đi vào trại tập trung và đổi khoai tây lấy những đồ vật quí ở đây. Người ta bảo những thứ đó còn rất nhiều trên tay những người Do thái bị nhốt trong các trại tập trung. Anh ta đã làm như vậy đấy. Trước chuyến đi anh ta gặp tôi ngoài phố, và anh thử nghe xem anh ta nói gì. “Tôi sẽ, - anh ta nói, - chỉ đổi khoai tây cho những người đàn bà có con nhỏ”.
- Tại sao vây? – tôi hỏi.
- Tại vì, bọn họ sẽ vì những đứa con mà sẵn sàng làm mọi thứ và nhờ đó tôi kiếm chác được nhiều hơn gấp ba lần.
Tôi im lặng, nhưng việc đó cũng làm tôi phải trả bằng một cái giá không rẻ đâu. Anh thấy chưa?
Người đàn ông Latvia lấy chiếc ống điếu trong mồm ra và chỉ cho tôi xem những chiếc răng của ông. Hàm răng thiếu mấy chiếc.
- Tôi im lặng, nhưng cắn chặt răng vào chiếc ống điếu làm vỡ cả ống điếu và hai chiếc răng. Người ta bảo là máu phun cả lên đầu. Tôi chẳng biết. Theo tôi thì máu không phun lên đầu, mà vào hai bàn tay, vào các nắm tay. Hai nắm tay trở nên nặng ký hơn, như được đúc bằng thép. Và nếu anh ta không bỏ ra ngoài thì có lẽ tôi đã giết anh ta bằng một cú đấm. Có lẽ anh ta đã đoán được điều đó, bởi vậy anh ta nhảy tránh xa tôi và nhe răng, như con chồn… Nhưng điều đó không quan trọng. Tối đến anh ta chất lên xe những bao tải khoai tây rồi chở đến một trại tập trung ở Riga. Tên lính gác chặn anh ta lại, nhưng, như anh biết đấy, những kẻ xấu chúng nó đều hiểu nhau qua cái nhìn đầu tiên. Anh ta đưa cho tên lính gác tiền hối lộ, và tên kia nói với anh ta: “Mày ngốc lắm. Vào đi, nhưng chúng nó chẳng còn thứ gì đâu, ngoài những cái bụng rỗng. Rồi mày sẽ quay về với những bao khoai tây thối. Tao có thể đánh cuộc đấy!”
Vào trại tập trung anh ta đi vào vuông sân trước một căn nhà lớn. Những người phụ nữ và trẻ con vây kín chung quanh chiếc xe chở khoai tây của anh ta. Họ im lặng nhìn anh ta mở bao khoai tây đầu tiên. Một người đàn bà bế trên tay đứa bé nằm bất động và chìa ra chiếc đồng hồ mạ vàng vỡ trên tay. “Mụ khùng! - người đàn ông bỗng quát lớn. – mụ lấy khoai tây làm gì khi thằng bé con mụ đã chết. Đi ra đi!”. Chính anh ta sau đó đã kể lại rằng anh ta không biết sự việc đã xảy với anh ta lúc đó ra sao. Anh ta cắn răng, bắt đầu nghiến đứt dây buộc bao tải và đổ khoai tây ra đất. “Nhanh lên nào! – anh ta bảo các bà phụ nữ. – Hãy đưa bọn trẻ đây. Tôi sẽ chở chúng đi. Nhưng đừng hở chuyện ra và hãy im lặng. Nhanh lên nào!”. Những bà mẹ cuống quít lên, bắt đầu cho những đứa con vào bao tải, và anh ta buộc chặt các bao tải lại. Anh hiểu không, các bà phụ nữ chẳng còn đủ thời gian, dù chỉ là để hôn mấy đứa con. Mà tất nhiên họ biết rằng sẽ không còn được gặp lại chúng nữa. Anh ta chất đầy lên xe những bao tải đựng trẻ con và chở đi. Các bà hôn lên những chiếc bánh xe lấm lem bùn đất, còn anh ta phóng xe đi, không ngoãnh lại. Anh ta quát ngựa lạc cả giọng, cứ lo có đứa trẻ nào đó sẽ khóc và làm lộ mọi chuyện. Nhưng mấy đứa bé vẫn im lặng.
Tên lính gác quen nhận ra anh ta từ xa và hét to: “Thế nào? Tao đã bảo mày là thằng ngốc. Biến đi cho nhanh với đống khoai tây thối của mày trước khi ngài trung úy đến đây”.
Anh ta chạy xe ngang qua cạnh tên lính gác, chửi rũa những câu cuối cùng với những người Do thái nghèo và những đứa trẻ đáng ghét của họ. Anh ta không đánh xe về nhà, mà đi thẳng theo các con đường làng gồ ghề vào cánh rừng ngoại ô Tukums, nơi đội du kích đóng quân, trao mấy đứa trẻ cho những người du kích, và những người du kích đưa chúng đến nơi ẩn náu an toàn. Anh ta nói với vợ là bọn Đức tịch thu hết khoai tây và giam anh ta hai ngày đêm. Khi chiến tranh kết thúc, anh ta ly dị vợ và đi khỏi Riga.
Cụ già Latvia ngừng lời một chốc.
- Bây giờ tôi nghĩ lại, - cụ nói và lần đầu tiên thấy cụ mỉm cười, - thật tệ hại nếu lúc đó tôi không kiềm chế được mà giết chết anh ta bằng quả đấm của tôi.
CHIẾC BÁNH NGỌT NHIỀU LỚP - Paustovsky K.
chauphanbach | 18 January, 2012 14:00
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 3. Bắt đầu một thế kỷ chưa từng có:
>> 1. Xoáy nước
>> 2. Những ngọn đuốc xanh
>> 3. Hiệu cà phê của các nhà báo
>> 4. Gian phòng họp có giếng phun
>> 5. Khu vực tĩnh lặng
>> 6. Cuộc bạo động
>> 7. Tư liệu về lịch sử các biệt thự ở Moskva
>> 8. Vài lời giải thích
>> 9. Toa tàu có lò sưởi trên tuyến đường sắt Riga-Orlovsky
>> 10. Vùng đệm
>> 11. "Vị tư lệnh khố rách áo ôm của chúng tôi"
>> 12. Tia tử ngoại
>> 13. "Chồng em là bôn shevich, còn em là quân Gaidamak"
>> 14. Chiếc quần chẽn màu huyết dụ có đường nẹp
>> 15. Chiếc bánh ngọt nhiều lớp
CHIẾC BÁNH NGỌT NHIỀU LỚP
Đó là vào một buổi sáng mùa hè có gió giật. Những cành dẻ đập rào rào loạn xạ bên ngoài các ô cửa sổ, và có tiếng đạn đại bác nổ xa xa từ phía Fastov. Ở đó đang có trận đánh với quân Denikin từ phía nam tiến lên.
Trong căn phòng hơi tối của bà Amalia ngào ngạt mùi cà phê mới xay. Bà Amalia đang xay những hạt cà phê cuối cùng. Chiếc cối xay kêu trèo trẹo ai oán, và thỉnh thoảng còn rít lên như cảm thấy sắp đến lúc chấm dứt sự tồn tại của mình.
Cũng như mọi khi, mùi cà phê làm cho ta có cảm giác căn phòng thêm ấm cúng, mặc dù chiếc hàn thử biểu “món quà mùa hè” treo trên tường đã hỏng, được trang trí bằng những chiếc vỏ ốc, - cả mùa đông và mùa hè đều chỉ đúng vào cùng một con số: ba độ âm. Con số ba độ âm này đôi lúc làm người ta cảm thấy trong căn hộ lạnh hơn so với nhiệt độ thực tế.
Có người nào đó gõ vào cánh cửa bếp. Tôi nghe thấy tiếng bà Amalia ra mở cửa. Sau một chốc yên lặng bà bỗng vừa thở vừa nói to:
- Vâng! Anh ấy ở đây! Ở đây! Tất nhiên rồi!
Giọng bà Amalia ngưng bặt. Tôi lao ra nhà bếp. Ở đó có hai người hành khất lem luốc bụi đường đang đứng. Trên đầu hai người quấn những chiếc khăn thấp đến mức không thể nhìn thấy đôi mắt.
Người đàn bà hét lên giọng nhỏ hơn: “Kosstik!” – bà ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu và gục đầu xuống bàn ăn. Cái gậy tự làm, được chặt ra từ cây bạch dương, bà cầm trên tay rơi xuống và kêu lạch cạch trên sàn.
Tôi nhận ra giọng nói của mẹ, tôi quì xuống trước mẹ và cố nhìn lên mặt mẹ. Mẹ vừa nhìn tôi vừa đưa hai bàn tay nhăn nheo và lạnh toát ôm hai bên má tôi và mẹ khóc không ra nước mắt. Chỉ có hơi thở dồn dập nói lên sự xúc động của mẹ.
Còn chị Galia vẫn đứng, không nhúc nhích, - có lẽ chị ấy không còn nhìn thấy gì nữa. Tôi nhìn thấy hai chân chị quấn những băng vải cắt ra từ một tấm chăn vải pi-kê và buộc bằng sợi dây. Cho đến giờ tôi vẫn nhớ mãi những băng vải chăn với những hoa văn xanh này. Trên mắt chị Galia không đeo kính. Chị hồi hộp, ngẩng cổ lên nhìn về phía góc bếp, nơi có chiếc mắc áo cong kiểu Viên, và hỏi mẹ: “Thế nào? Nó có ở đấy chứ, Kostik? Sao em không trả lời gì cả? Nó ở đâu?”
Mẹ và chị Galia đã đi bộ từ Kopan đến Kiev. Ở lại lâu hơn nữa tại Kopan thật vô nghĩa. Hầu như ngày nào các băng cướp nhỏ cũng đột nhập vào điền trang, nhưng không động chạm đến mẹ và chị Galia, có lẽ vì chẳng còn gì có thể lấy được từ hai mẹ con.
Những băng cướp khác thậm chí còn thương hại mẹ và khi bỏ đi đã để lại cho mẹ khi thì một đống bánh mì khô, khi thì bánh khô dầu, và một tên cướp thậm chí còn biếu mẹ một tấm khăn san Tây ban nha có màu sắc khá đẹp, nhưng thủng lỗ chỗ. Theo lời hắn, chiếc khăn này hắn lấy được trong nhà hát ở Zhitomir.
Toán cướp cuối cùng với biệt danh “Thiên thần báo thù” đã làm cho mẹ hoàn toàn tuyệt vọng. Mẹ đã từng nhìn thấy hàng chục đầu lĩnh, và mẹ hết sức sững sốt khi thấy “Thiên thần báo thù” là một người theo đạo, để râu, đeo kính. Trước đây hắn có một hiệu thuốc ở Radomyslo và tự cho mình là người theo chủ nghĩa vô chính phủ về tư tưởng.
Hắn gọi mẹ là “madam” và cướp đi mọi thứ, cho đến cây kim cuối cùng, nhưng để lại bản ghi chi tiết tất cả những thứ hắn lấy với lời ủy quyền nhận đền bù theo bản ghi chép này, nhưng chỉ sau khi “chủ nghĩa vô chính phủ thống trị cả thế giới”.
Mẹ và chị Galia đi bộ về Kiev mất hai tuần. Hai mẹ con giả dạng người ăn xin, mà thực sự họ chẳng khác gì những người ăn xin. Chị Galia đi không đeo kính, tay bám vào vai mẹ như người mù. Không ai tin vào sự đói khổ của họ nếu chị Galia đeo kính. Vào thời kỳ loạn lạc lúc đó người ta đối xử với con người trong sự ngờ vực. Hầu hết những “người đeo kính” bị coi là kẻ thù ranh ma và bị người ta vô cùng căm ghét. Thật đáng ngạc nhiên là sự mất niềm tin này đối với những “người đeo kính” vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay và làm nảy sinh cái biệt danh miệt thị “đồ đeo kính”.
Mấy ngày liền mẹ và chị Galia được nghỉ ngơi, ngủ bù, và trạng thái an tâm và hạnh phúc không rời khỏi trên nét mặt hai mẹ con. Sau đó, cũng như mọi khi, mẹ quyết định xắn tay áo lên, bắt đầu giúp bà Amalia may vá. Hai bà kết bạn với nhau, trong căn hộ lúc này đã có hai chiếc máy khâu chạy lạch xạch, còn chị Galia thì bắt tay vào việc làm những bông hoa giả.
Chị làm hoa giả rất chậm và cẩn thận, từ những vụn vải đủ màu sắc. Tôi ngạc nhiên nhìn bộ đồ nghề của chị Galia gồm những công cụ bằng thép và những khuôn ép. Bằng những dụng cụ này chị cắt vải dầu hồ cứng để ghép thành những vành hoa cúc, những cánh hoa hồng và những chếc lá đủ loại. Đặc biệt là vô số những nhụy hoa và nụ hoa. Những bông hoa trông thật đẹp, nhưng có mùi sơn, mùi hồ dán và rất dễ bắt bụi,
Trong thâm tâm tôi tin rằng công việc này của chị Galia là hoàn toàn vô nghĩa, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng, đói kém và cuộc nội chiến. Ai sẽ mua những bông hoa này, khi mọi người đang tiến hành những cuộc cuộc săn tìm có thể làm vỡ đầu và thiệt mạng vì một chục trứng hoặc một cốc dầu hướng dương. Nhưng hình như tôi đã nghĩ không đúng.
Những bông hoa vải bán rất chạy tại các cửa hàng cạnh nghĩa trang Baikovo, nơi người ta bán những vòng hoa rẻ tiền, những rào chắn quanh các ngôi mộ (người ta làm ra chúng chủ yếu từ những chiếc giường cũ), những bia bằng đá cẩm thạch lốm đốm trắng và những cây thập tự giá bằng sắt bóng bẩy.
Mỗi tuần có một bà cụ mua đi bán lại đến gặp chị Galia, mua hết những bông hoa và khuyên chị Galia đừng quá đừng quá cầu kỳ trong việc kết hoa, - thế nào người ta cũng mua hết ngay, vì chẳng có thứ hoa nào khác.
Chị Galia không bằng lòng với những lời khuyên đó và chị tiếp tục cặm cụi kết một bông hoa hồng trà gì đó suốt cả ngày. Chị tận tâm đến quên cả bản thân mình.
Bà cụ mua đi bán lại có một triết lý bất di bất dịch, rất hài lòng với luận thuyết mờ ám về nghề nghiệp của con người. Bà thích trình bày nó bằng cái giọng đều đều của mình.
- Khi đến cái thời như thời của chúng ta, - bà nói, - chỉ có thể kiếm sống với những thứ đã có, đang có và sẽ có trên trái đất, mặc xác tất cả những cuộc cách mạng và chiến tranh. Đầu tiên – đó là tóc trên đầu không bao giờ ngừng mọc chừng nào mà, như người ta bảo, trái đất của chúng ta còn quay trong bầu trời. Ngày và đêm nối tiếp nhau không ngừng nghỉ, bạn hãy nhớ điều đó. Từ đó, tôi nghĩ rằng bạn có thể rút ra kết luận là cái nghề có hiệu quả nhất là nghề cắt tóc. Thứ hai nữa – đó là con người không bao giờ hết chết. Dù có chính quyền nào đi nữa thì vẫn phải mai táng người chết. Mà người đã chết thì không thể tự đào huyệt cho mình, không thể tự đặt vòng hoa trên nấm mồ và không thể tự viết trên bia mộ “Ngủ yên nhé, người chồng yêu quí Iasha” hoặc “Anh đã ngã xuống bằng cái chết bốc lửa làm khiếp sợ kẻ thù”. Có nghĩa là trong việc này có thể bất cứ lúc nào cũng kiếm ra tiền. Nó là như vậy. Những người này đau khổ, nhưng tôi có bánh mì. Những người kia khóc, còn tôi có cốc sữa.
Mọi người trong nhà đều sợ bà cụ nghĩa trang độc mồm độc miệng này, trừ chị Galia. Chỉ có chị Galia dũng cảm lao vào những cuộc tranh cãi vô bổ với bà ấy.
*
Những tiếng súng đại bác ở phía nam ngày càng dồn dập. Các đơn vị Xô viết đã thực hiện mấy trận đánh với quân của Denikin ngay tại cửa ngõ thành phố.
Trong cái công sở vải thô này, nơi tôi lại quay về làm việc khi rời trung đoàn vệ binh, cuộc tản cư đã bắt đầu. Người ta chở những bao vải thô ra ga hàng hóa và chuyển lên phía bắc.
Có lần vào một buổi sang tôi đến công sở và nhìn thấy trên cánh cửa ra vào một mảnh giấy gắn trước cửa bằng đinh ghim. Mảnh giấy được đánh máy trên chiếc máy chữ hỏng quen thuộc đối với tôi, thiếu chữ “r”: “công sở đã tản cư ta cứu theo số điện thoại gì gì đo”.
Tôi đứng trên cầu thang hơi tối, ngập ngụa những mảnh vải gai, hy vọng sẽ có nhân viên nào đó đến. Nhưng không có ai đến.
Băn khoăn tôi đi ra phố và nhìn thấy hai chục thương binh hồng quân đang đi. Người lem luốc và phờ phạc, họ bước đi nặng nhọc trên mặt đường. Người thì trên tay, người thì trên mặt có những chiếc băng trắng vừa mới được băng bó.
Tôi đi theo sau họ. Rõ ràng là những người này vừa mới từ một trận đánh trở về và đi bộ vào thành phố.
Họ đi theo phố Vasilkovskaia, sau đó qua phố Kreshatik và bắt đầu xuống con dốc Podol ra phía sông Dniepr. Họ đi, lúc đầu là con phố Vasilkovskaia ồn ào và nhộn nhịp hàng quán, rồi sau đó là phố Kreshatik không kém phần ồn ào và lộng lẫy, rồi cứ yên ắng dần. Những người đi đường dừng lại và nhìn rất lâu theo sau lưng các chiến sĩ hồng quân. Sự lo ngại đi theo phía sau các thương binh qua Kreshatik và nhanh chóng tỏa ra tất cả các đường phố lân cận.
Tôi đuổi kịp một chiến sĩ hồng quân và hỏi bây giờ trận đánh đang xảy ra ở đâu?
- Cạnh Tửu quán Đỏ, - anh lính hồng quân trả lời, không nhìn tôi. - Ở đó bây giờ đang căng lắm, đồng chí ạ.
Quân Denikin tấn công lên từ phía đông-nam, từ Darnitsa, còn Tửu quán Đỏ nằm ờ phía tây-nam Kiev.
- Chẳng lẽ quân Denkin đã bao vây thành phố rồi sao? Chúng có đông không, quân Denikin đó? – đám đông hỏi.
- Nhưng có quân Denikin nào đâu! – anh lính hồng quân bực mình trả lời. - Ở đó chúng chả có mống nào.
- Thế các anh đánh nhau với ai?
- Tất nhiên là với kẻ thù, - anh lính hồng quân trả lời, mỉm cười rồi đi theo cho kịp đồng đội.
Mọi việc thật khó hiểu. Ngay một giờ sau đó trên thành phố bắt đầu nghe thấy tiếng rít của đạn pháo bay qua và nổ tại Podol và trên các bến tàu, dân cư thành phố rơi vào tình trạng hỗn loạn hoàn toàn. Lại bắt đầu xuống ở dưới các tầng hầm. Lại bắt đầu tổ chức canh phòng trong các vuông sân, những ngọn đèn dầu phụt tắt khi có tiếng nổ, tích trữ nước vào mọi thứ bình chứa có trong nhà, những tin đồn và những đêm mất ngủ.
Có lẽ đi canh phòng ban đêm là công việc dễ chịu nhất trong cái thời kỳ hỗn loạn đó. Thậm chí tôi thích những phiên canh phòng này trong vuông sân nhỏ cạnh cánh cửa sắt và mấy cánh cổng gang vắng vẻ.
Không hiểu sao trong vuông sân bé nhỏ này, nơi chỉ mọc một cây dẻ đơn độc cành lá lòa xòa, tôi cảm thấy mình được an toàn vào buổi tối, như trong một pháo đài bất khả xâm phạm.
Những người canh phòng không có bất cứ vũ khí gì và cũng không được phép có. Người ta xử bắn ngay nếu cất giấu dù chỉ là khẩu súng trẻ con montekristo. Việc duy nhất mà người canh phòng phải làm, - đó là gọi cư dân dậy khi có tín hiệu báo động nào dù là nhỏ nhất, để họ không lâm vào nguy hiểm bất ngờ. Để làm việc này người ta treo trong sân một chậu thau và một chiếc búa.
Có lẽ tôi đã yêu thích những buổi canh phòng ban đêm này vì cái cảm giác kỳ lạ, hoàn toàn không thực về sự an toàn, cái an toàn tồn tại bên cạnh sự hiểm nguy. Nó, cái mối hiểm nguy đó, ẩn náu ngay bên ngoài tấm sắt của cánh cổng vời bề dày chỉ hai milimét.
Chỉ cần mở cổng ra và bước qua bậc cổng là có thể tận mắt chứng kiến cái gì đó khủng khiếp và chưa từng biết đang khống chế những đường phố chết chóc của Kiev trong những đêm đen, là có thể nghe tiếng ai đó rón rén đi dọc mảnh vườn con trước cửa nhà, và cảm nhận bằng tất cả mọi dây thần kinh viên đạn chì bay xoèn xoẹt trên không và xuyên đúng vào người của bạn.
Trong vuông sân thì sự sợ hải này tan biến. Chỉ cần chú ý lắng nghe và ngồi lặng lẽ để không có cái gì làm cho bạn lộ ra. Bản năng thú vật cho thấy rằng, giữ im lặng trong bóng tối là cách tốt nhất nhằm cứu lấy mình để không bị kẻ thù phát hiện.
Thỉnh thoảng cùng canh phòng với tôi là một thầy giáo đứng tuổi dạy môn sử từ trường nữ trung học Levandovskaia trước đây. Tên ông là Avel Isidorovich Stakover.
Mặc dù Stakover dạy học ở trường nữ trung học, nhưng ông lại là một người căm ghét phụ nữ không giấu diếm. Người thấp, với bộ râu dài bù xù và hai mi mắt đỏ, ăn mặc lôi thôi lếch thếch, lúc nào cũng giận dỗi, ông không hề biết mệt mỏi, giống như nhà tiên tri Ieremia, trong việc ném những lời nhục mạ lên đầu tất cả phụ nữ không trừ ai.
Ông chỉ có thể bình tĩnh khi nói về thời kỳ trung thế kỷ. Ông khẳng định đó là thời kỳ đáng yêu nhất trong lịch sử loài người. Tất nhiên Stakover có cơ sở để khẳng định như thế, nếu như cắt bỏ khỏi lịch sử thời trung thế kỷ việc sùng bái phụ nữ đẹp và thánh mẫu. Dù sao thì tất cả những cái còn lại cũng đứng về phía Stakover.
Ông đếm những ưu điểm của thời trung thế kỷ trên đầu ngón tay. Một là, trên trái đất thoáng đãng hơn. Hai là, rừng rậm và nước tiến sát đến bậc cửa các ngôi nhà. Con người hít thở không khí trong lành của rừng dày và hấp thụ những nguồn nhựa tinh khôi của trái đất, chứ không phải là mùi dầu hỏa khét lẹt và những thứ đồ hộp. Ba là, thời đó nền thi ca vĩ đại đã phát triển và tư tưởng con người cũng không kém sắc sảo so với bây giờ. Bốn là, bản thân con người cũng giản dị hơn, trong sáng hơn và hấp dẫn hơn so với những thời đại hưng thịnh của nền văn minh.
Stakover tận dụng mọi trường hợp để chứng minh cho tôi thấy cái đẹp của thời kỳ trung thế kỷ. Dường như ông có thể dễ dàng đưa tôi về với những thời đại xa xưa, có vẻ như tôi có khả năng tùy ý lựa chọn một thời đại bất kỳ để tồn tại. Ông phát biểu như một người đi tuyển mộ, như một đồ đệ nhiệt thành, như một người đại diện cho thời trung thế kỷ và ông nói về cái thời đó cứ như ông mới vừa từ đó trở về.
Thậm chí cuộc nội chiến ở Ukraine và những buổi canh phòng ban đêm của chúng tôi cũng được Stakover tận dụng để ca ngợi thời trung thế kỷ.
Trong một đêm nọ, khi các đơn vị hồng quân rút khỏi Kiev và không biết pháo binh của bên nào nhả đạn qua thành phố, Stakover bảo tôi:
- Không biết anh, người bạn trẻ của tôi, thì thế nào, chứ tôi thì tôi chỉ muốn sống trong một lâu đài thời trung thế kỷ. Trong những thời kỳ loạn lạc chỉ có ở đấy con người mới được yên bình hạnh phúc và an toàn. Từ trong rừng, nơi trên mỗi bước chân đi bạn có thể đánh đu trên nhánh sồi nào gần nhất, chui vào dưới bóng những bức tường hình răng cưa đã tồn tại hàng bao đời. Một chiếc cầu cất kéo dài từ những bức tường này đến mấy cánh cổng đóng kín của lâu đài, và con người bỗng cảm thấy không những chỉ có niềm vui vì được cứu độ, mà còn thấy sự đầy đủ hoàn toàn của cuộc sống. Sự tĩnh lặng của ánh nắng trong mấy vuông sân cổ kính chiếu sáng lên người anh ta, nó tràn đầy không khí, nó réo rắt trong tiếng nhạc tù và kêu gọi cư dân trong lâu đài ngồi vào bàn ăn. Sự tĩnh lặng của ánh nắng chứa đựng trong những tập sách dày của thư viện, nơi cơn gió thổi làm những trang sách dày kêu loạt soạt. Con người cảm thấy thư thái trong cuộc sống của mình. Và chỉ có trong trạng thái đó anh ta mới có thể sáng tạo ra những giá trị bất tử, anh bạn trẻ của tôi ạ.
Còn vào ban ngày Stakover cho tôi xem những bản đồ và những hình vẽ các lâu đài cổ, với những tòa tháp chính đồ sộ, những chòi canh, những lối đi, mê cung của những căn phòng tranh tối tranh sáng, những chiếc lò sưởi, những khu vườn bên trong và những giếng nước. Tất cả các lâu đài tọa lạc trên những đỉnh núi, trên những bờ đá hiểm trở. Những lâu đài này đón những cơn gió đến từ mọi hướng: gió Burgundy và Il-de-Franse, gió Lotaringy và Savoin, gió Behemy và Anennin. Mặt trời từ trên cao, như một chiếc vương miện bừng cháy, trút ánh nắng xuống những tòa tháp, những ngọn cờ và mái ngói trải lông thú.
Mẹ tôi đặc biệt thích nghe Stakover nói chuyện. Khi tôi đi canh phòng, nửa đêm mẹ thức dậy, trùm lên người chiếc khăn ấm, rồi xuống sân. Chúng tôi ngồi sau bức tường nhô ra của ngôi nhà và thì thầm nói chuyện, thường phải ngừng câu chuyện để nghe ngóng một tiếng động khó hiểu nào đó.
Mẹ, cũng giống như tất cả những bà mẹ khác, thản nhiên coi cả chị Galia và tôi hoàn toàn còn là những đứa trẻ, hồn nhiên khuyên tôi nên thường xuyên nói chuyện với Stakover.
- Đây là kho tàng trí tuệ của mọi kiến thức, - mẹ nói. – Một trường đại học tổng hợp di động. Sẽ rất có ích nếu con gặp gỡ bác ấy thường xuyên hơn, Kostik ạ. Con đừng bỏ qua những con người như thế.
Không, tôi chưa bao giờ bỏ qua những người như thế. Ngược lại, tôi có thể ngồi nghe họ nhiều giờ liền. Tôi cám ơn họ vì những kiến thức dồi dào và vì sự hào phóng mà họ đã chia sẻ cho tôi.
Tôi ngạc nhiên ở chỗ là, đến lượt họ, họ lại cám ơn tôi vì tôi đã chăm chú nghe họ nói. Có lẽ họ quá ưu ái cho sự chú ý, và tôi chỉ có thể giải thích điều này theo cách diễn đạt chính xác của Pushkin: đó là do những người Nga chúng ta là “những người lười nhác và thiếu óc tò mò”[1]. Chẳng có trường trung học hay đại học nào cung cấp cho chúng tôi những kiến thức - sâu sắc và thú vị hấp dẫn - như những quyển sách và những cuộc gặp gỡ với mọi người. Và rồi cuối cùng, tôi – một con người quá nhút nhát, - lúc nào cũng ganh tỵ với những con người dễ dàng hòa nhập với môi trường chung quanh và ngay lập tức khuấy động những cuộc chuyện trò rôm rã cùng với họ. Còn tôi thì phải mất nhiều thời gian mới làm được điều này.
Đạn đại bác suốt đêm gầm rít trên thành phố. Chúng rơi nổ ở Podol với tiếng ầm ầm tưởng chừng như ai đó ném xuống đất cả bó thép tấm.
Vào lúc trời hửng sáng các đơn vị hồng quân rút về phía thượng nguồn Kiev, và tình hình trở nên yên tĩnh.
Là một phụ nữ khác người ở tính quá ham tìm hiểu cặn kẻ mọi việc và hoàn toàn coi thường nguy hiểm, sáng sớm mẹ đã đi vào thành phố để “do thám”, như cách nói của mẹ. Không bao lâu sau mẹ về và kể lại rằng thành phố chẳng còn người, rằng quân Denikin còn chưa vào, nhưng đâu đó trên các tòa nhà những người dân thành phố có tính phòng xa đã treo lên những lá cờ sa hoàng đỏ-xanh-trắng.
Khi chúng tôi ngồi trong bếp uồng trà cà rốt, thì trên phố Fundukleevskaia đã vang lên những tiếng hô “ura!” quen thuộc. Chúng tôi ra đứng ở ban công. Đi trên phố không phải là quân Denikin mà là quân của Petliura, với những lá cờ xanh-vàng. Họ đi bình tĩnh và tự tin, quần áo đồng phục lất phất.
Và cũng chính họ, “những người Ukraine gốc Do thái” vừa mới cách đây chưa lâu còn làm ngứa mắt chúng tôi trong những chiếc áo sơ mi thêu, giờ lại đã hô vang “vinh quang thay!” và tung lên không những chiếc mũ lông đính nơ.
Thành phố hoang mang. Thay vì quân Denikin thì quân Petliura đã tiến vào.
Họ đến Kreshatik, chiếm khu vực này, lập trại lính ở đó và treo lá cờ của họ trên ban công viện Duma thành phố. Lá cờ trên ban công như là một cột mốc biểu tượng. Mọi chính quyền mới đều treo cờ lên để chứng tỏ rằng họ không qui hàng nếu không đánh nhau.
Ngay lúc đó lan truyền những tin đồn về việc Denikin nhường lại Kiev cho quân Petliura, còn các đơn vị bạch vệ đã tiến đến thành phố từ phía nam sẽ chuyển sang hướng Orlov.
Dân chúng bị rối mù đến mức không còn chịu nổi vì những cuộc thay đổi bất ngờ và những cuộc “đảo chính”, đành cứ mặc kệ, không thèm để ý đến việc ai nắm chính quyền trong thành phố, chỉ cần những người mới đến không bắn nhau, không cướp bóc và không tống họ ra khỏi nhà. Bởi vậy việc tiếp quản của quân Petliura đã gặp phải sự thờ ơ hoàn toàn.
Nhưng vào lúc một giờ chiều từ hướng Petchersk, từ hướng Lavra, tiến vào thành phố là những đội cận về đầu tiên của Denikin, rồi theo sau họ là trung đoàn Kazak sông Don.
Quân Denikin tiến đến Kreshatik, nơi đang bị quân Petliura chiếm giữ, đã rất ngạc nhiên bởi tình huống này – và ngạc nhiên không kém cư dân thành phố - rồi bắt đầu tìm hiểu xem thực chất của sự việc như thế nào.
Hóa ra là một sư đoàn quân Petliura đang ém quân ở phía tây thành phố trong các làng mạc và chờ đến giờ hành động của họ. Không ai biết được điều này. Lợi dụng sự rút lui của các đơn vị quân xô viết, sư đoàn quân Petliura quyết định vượt lên trước quân Denikin, tiến vào Kiev và sau một trận đấu trí họ đã chiếm được thành phố.
Tất nhiên quân Denikin không thích thú gì điều này. Giữa họ và quân Petliura bắt đầu những cuộc đàm phán bí mật và phức tạp nào đó. Sau khi đàm phán xong thì trên ban công viện Duma thành phố, bên cạnh lá cờ của Petliura xuất hiện thêm lá cờ đỏ-xanh-trắng, thể hiện cho chính quyền song hành.
Dân Kiev không còn hiểu ra sao nữa. Khó mà đoán được ai sẽ nắm quyền trong thành phố.
Nhưng đến tối thì tất cả những thắc mắc này đã kết thúc khi phía Denikin được tăng cường thêm quân. Hai trung đoàn Kazak bỗng đổ quân ồ ạt xuống từ các ngọn núi dốc đứng Petchersky, đè bẹp quân Petliura không đề phòng trước gì cả.
Các trung đoàn Kazak tiến xuống ồ ạt từ những điểm cao đã bị bỏ trống, vừa hò hét, vừa bắn chỉ thiên và vung những thanh gươm tuốt trần. Không có thần kinh nào chịu được cuộc tấn công chớp nhoáng và man dại này.
Quân Petliura bỏ chạy không bắn trả phát nào, vứt lại những khẩu đại bác và súng ống. Và chính những cụ già “Do thái” buổi sáng mới vừa xun xoe hô “vinh quang thay!”, bây giờ lại từ trên các ban công và hè phố vừa vung nắm tay giận dữ vừa hét to “ganba”, có nghĩa là “nhục nhã”. Nhưng binh lính Petliura không để ý đến những tiếng hô này và vừa chạy, vừa ngơ ngác nhìn quanh và vội vã nhét những thứ gì đó vào trong các túi áo túi quần.
Họ chỉ hoàn hồn khi chạy được đến Sviatoshin ở ngoại ô thành phố. Tại đó họ dừng lại nghỉ ngơi. Và đơn vị pháo binh duy nhất chạy theo đã bắn hú họa hàng chục quả đạn vào thành phố.
Không có tổn thất gì, nếu không kể đến việc trên đồi Vladimir một quầy bán kem bị đánh sập, còn một mảnh đạn đại bác đã cắt đứt tai một bức tượng thạch cao - một trong những nhà khai sáng nước Nga – không biết là Kirill hay Mefodia.
Sáng hôm sau khắp thành phố đều có dán bản mệnh lệnh của tướng Bredov về việc từ hôm nay Kiev mãi mãi trở lại thành một phần của nước Nga duy nhất không thể chia cắt.
[1] “những người lười nhác và thiếu óc tò mò”. – Trích “Chuyến du hành đến Arzrum” của A.C. Pushkin. Khi kể về cái chết của A.C. Griboedov, Pushkin nhận xét: “Viết tiểu sử về ông ấy là công việc của những người bạn của ông, nhưng những con người phi thường từ giả chúng ta mà không để lại dấu vết gì về họ. Chúng ta là những người lười nhác và thiếu óc tò mò…”
CHIẾC QUẦN CHẼN MÀU HUYẾT DỤ CÓ ĐƯỜNG NẸP
chauphanbach | 15 January, 2012 16:53
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 3. Bắt đầu một thế kỷ chưa từng có:
>> 1. Xoáy nước
>> 2. Những ngọn đuốc xanh
>> 3. Hiệu cà phê của các nhà báo
>> 4. Gian phòng họp có giếng phun
>> 5. Khu vực tĩnh lặng
>> 6. Cuộc bạo động
>> 7. Tư liệu về lịch sử các biệt thự ở Moskva
>> 8. Vài lời giải thích
>> 9. Toa tàu có lò sưởi trên tuyến đường sắt Riga-Orlovsky
>> 10. Vùng đệm
>> 11. "Vị tư lệnh khố rách áo ôm của chúng tôi"
>> 12. Tia tử ngoại
>> 13. "Chồng em là bôn shevich, còn em là quân Gaidamak"
>> 14. Chiếc quần chẽn màu huyết dụ có đường nẹp
CHIẾC QUẦN CHẼN MÀU HUYẾT DỤ CÓ ĐƯỜNG NẸP
Những cuộc tranh cãi căng thẳng gay go với Zozul về nghệ thuật đã bị gián đoạn bất ngờ bởi lệnh gọi tôi nhập ngũ. Do bị cận thị nặng tôi luôn luôn được miễn nghĩa vụ quân sự và được làm người “đeo thẻ trắng” như người ta thường gọi. Nhưng giờ đây người ta bất ngờ gọi nhập ngũ tất cả những người được miễn trước đây.
Tôi cùng với một số thanh niên đã được người ta khám tuyển và đưa đến trung đoàn vệ binh.
Tất nhiên đó là trung đoàn kỳ cục nhất trong tất cả các trung đoàn bất kỳ nào tồn tại trên thế giới.
Trong một cuộc đụng độ với quân Makhnov, một viên phụ tá của Makhnov đã bị bắt làm tù binh – hắn tên là Antoshenko hay Antoniuk gì đó. Tôi quên mất họ của hắn. Chúng ta sẽ gọi hắn là Antoshenko.
Căn cứ vào toàn bộ tội ác của tên Antoshenko này thì hắn đáng phải xử bắn. Nhưng trong khi ngồi ở nhà tù Lukianovsky, trong cái đầu gàn dở của hắn chẳng hiểu vì sao bỗng xuất hiện ý nghĩ về khả năng được cứu thoát.
Antoshenko gọi người dự thẩm và đọc cho ông ta viết bức thư gửi chủ tịch Ủy ban Tình trạng Khẩn cấp. Antoshenko viết rằng chính quyền Xô viết không biết giải quyết thế nào với những tên cướp bị bắt làm tù binh. Chúng quá đông. Không thể xử bắn tất cả, còn việc giam giữ những kẻ ăn bám, đặc biệt là trong thời kỳ đói ăn này, thật tốn kém. Bởi vậy sau khi thu vũ khí người ta thường thả bọn cướp cho chúng chạy tứ tung. Phần lớn bọn chúng lại quay về dưới “những ngọn cờ tình nguyện” của các đầu lĩnh của chúng, và lại bắt đầu cuộc truy hoan đẫm máu và cuộc chạy rông khắp đất nước Ukraine.
Antoshenko đề xuất một lối thoát: đừng xử bắn hắn, tên Antoshenko, mà ngược lại, tha hắn ra khỏi nhà tù, còn hắn, để tỏ lòng biết ơn về việc đó sẽ bắt tay thành lập một trung đoàn vệ binh hoàn toàn mẫu mực từ những tên cướp bị bắt làm tù binh thuộc tất cả các chủng loại.
Antoshenko viện dẫn uy tín của hắn trong bọn cướp và viết rằng ngoài hắn ra không ai đủ sức làm việc này.
Chính phủ quyết định mạo hiểm và thả Antoshenko ra. Và đúng là chỉ sau một thời gian ngắn hắn đã thành lập một trung đoàn vệ binh, trong đó tất cả những tên cướp đã bị bắt làm tù binh được phân chia thành các đại đội: makhnov, strukov, zelenov, tchervonoashelov, krasnozhupanik, grigoriev và còn một đại đội gồm những đại diện của những băng cướp nhỏ không mấy tiếng tăm, những tên gọi là “thanh niên khó xử”.
Và người ta đã đưa tất cả chúng tôi, những người “đeo thẻ trắng” vào chính cái đại đội này.
Bắt đầu từ việc những người áp tải thu gom chúng tôi tại điểm gọi nhập ngũ rồi chở chúng tôi đến ban tham mưu trung đoàn ở Peychersk. Trên đường đi, đáp lại những câu hỏi của chúng tôi, những người áp tải không trả lời, nhưng lúc nào cũng ném ra những lời hằn học: “Tự mình phải thấy chứ, đồ đê tiện” hoặc “Đừng có chõ mũi vào việc người khác, nếu không nó nện cho bây giờ”. Tất nhiên những lời đó là nói về Antoshenko.
Sau đó mọi việc xong xuôi! Người ta để chúng tôi đứng xếp hàng trước một ngôi nhà cũ bé nhỏ, nơi có cây tử đinh hương cao hơn mái nhà đứng trong mảnh vườn con. Chẳng có mối nguy hiểm gì đe dọa, mặc dù nét mặt tái mét và căng thẳng của mấy người áp tải không hứa hẹn điều gì tốt lành.
Một người đàn ông thấp đậm để râu quai nón từ trong nhà lảo đảo bước ra trên đôi chân vòng kiềng. Trên người ông ta là chiếc áo khoác lông màu đỏ và chiếc quần chẽn màu huyết dụ có đường nẹp. Những chiếc cựa giày to đùng kêu loảng xoảng trên đôi ủng da đỏ. Hai chiếc găng tay da đỏ nhăn nhúm trên mấy ngón tay múp míp của ông ta. Trên trán là chiếc mũ kiểu Kuban với chỏm mũ màu đỏ.
Đó chính là viên “chỉ huy đỏ” lố bịch kia, người những lính makhnov đã giới thiệu.
Không ai trong số những người bị gọi nhập ngũ có thể cười được. Ngược lại, nhiều người rùng mình sau khi nhìn thấy cặp mắt sáng quắc, hầu như trắng dã vì giận dữ của người đàn ông này. Chúng tôi đã đoán ra rằng đây chính là Antoshenko.
Trên thắt lưng hắn đeo một khẩu súng lục với một hộp gỗ to đựng đạn, còn ở bên hông – một thanh kiếm cong đựng trong vỏ nạm bạc.
Hắn rút trong túi quần chẽn ra chiếc khăn màu trắng tuyết, giũ chiếc khăn một cách tao nhã rồi lau môi. Sau đó hắn hỏi bằng cái giọng khàn khàn:
- Ai đưa chúng mày đến chỗ tao thế, mấy thằng trẻ ranh? Đánh bùn sang ao à?
Mấy người lính áp tải im lặng.
Antoshenko chậm rãi đi vòng quanh đội ngũ chúng tôi, nhìn từng người một từ đầu đến chân. Theo sau hắn là hai viên chỉ huy cao lớn. Có lẽ đó là thủ trưởng của các tiểu đoàn.
Bỗng Antoshenko rút thanh kiếm cong ra và hét lên bằng cái giọng the thé:
- Tao sẽ dạy cho chúng mày phải phục vụ cho cách mạng như thế nào, như người mẹ của chúng mày! Hởi những thằng chó con! Chúng mày biết tao như thế nào chưa? Tao đã dùng chính thanh kiếm này để chém tướng Kaledin, vậy chúng mày nghĩ tao sẽ nuông chiều chúng mày à? Không có ngày nào tao không uống hai chục cốc máu đâu. Tao khống chế được khắp vùng vì quê hương tao, và vì vậy Moskva gửi cho tao mỗi tháng ba mươi ngàn đồng rúp vàng để tiêu vặt. Chúng mày biết điều đó chưa? Mà có thể chúng mày biết câu chuyện của tao với những đứa khả nghi như chúng mày, thậm chí có thể nói rất ngắn gọn thôi, - một nhát dao vào lưng và xuống huyệt!
Giọng hắn cao lên the thé. Hai bên mồm hắn sùi bọt mép. Thật rõ ràng đứng trước chúng tôi hoặc là một thằng điên hoặc là một người bị bệnh động kinh.
Hắn đến sát một anh thanh niên cao, đeo kính, có lẽ là một sinh viên, rồi thúc chuôi kiếm vào sườn anh ấy.
- Mày thế nào? – hắn hỏi, dòm ngó như người say vào anh thanh niên cao. – Đeo kính à? Bằng bàn tay này tao đã giết vợ tao vì tội phản bội, - hắn xòe tay ra và đưa cho chúng tôi xem những ngón tay ngắn ngủn trong những chếc găng tay đỏ to đùng và rõ ràng là quá lớn đối với hắn. Chắc mày nghĩ rằng tao nhìn mày vì mày mang kính. Tao sẽ lột da mày, và chẳng ai nói một lời nào đâu.
Chúng tôi im lặng, ngạc nhiên, không hiểu việc gì đang xảy ra và chúng tôi đang ở đâu. Mấy người lính áp tải căng thẳng và căm phẫn nhìn Antoshenko. Chỉ có các tên chỉ huy tiểu đoàn đứng hoàn toàn như người ngoài cuộc và nhìn chúng tôi bằng đôi mắt buồn chán. Tất nhiên họ đã quen với những cảnh này.
Antoshenko bước lùi lại và hét lên bằng cái giọng hân hoan chiến thắng:
- Nào, trong bọn bay có thằng nào có văn hóa? Hãy làm ơn bước ba bước lên phía trước!
Và hắn làm động tác mời bằng thanh kiếm tuốt trần.
Tôi đã định bước lên phía trước, nhưng người lính áp tải đứng bên cạnh nói thầm vừa đủ nghe:
- Đứng im! Đừng bước lên!
Tôi vẫn đứng im. Tất nhiên tất cả chúng tôi đều có học, nhưng nhiều người nghi ngờ có cái gì đó không ổn trong giọng nói của Antoshenko, và vì vậy chỉ có mươi – mười lăm người bước lên. Tình huống này chẳng làm Antoshenko ngạc nhiên chút nào.
- Ai trong số chúng mày là nhạc công? – hắn lại hỏi vui vẻ, và người lính áp tải nói với tôi qua hơi thở:
- Đừng bước lên!
Sau đó Antoshenko vừa cười đùa vừa gọi ai là người đánh giày, ca sĩ và thợ may. Mọi người an tâm, và nhiều người bước lên. Còn chúng tôi, những kẻ không có văn hóa và không nghề nghiệp, chỉ còn lại khoảng mười hai người, - tất nhiên đó chỉ là những người mà các anh lính áp tải kịp cảnh báo.
Lúc đó Antoshenko quay lại phía một trong những chỉ huy tiểu đoàn và nói với ông ta bằng cái giọng mệt mỏi:
- Tiểu đoàn trưởng! Cậu có nhìn thấy những kẻ vụ lợi này chưa, chúng muốn làm thư lại trong ban tham mưu hoặc khâu vá quần áo cho các binh lính, thay vì phải hy sinh một cách anh hùng cho giai cấp nông dân thế giới? Cậu có thấy những thằng trí thức súc sinh này chưa, chúng muốn ngồi ghé bên cạnh cuộc đời, trong khi chẳng có tý quyền xác đáng nào để làm như thế cả?
- Tôi thấy rồi, đồng chí chỉ huy, - viên tiểu đoàn trưởng trả lời bằng cái giọng rầu rĩ.
- Ngay hôm nay đưa bọn chúng đi đánh với quân của Zeleny ở Tripol. Và dù chỉ còn một tên sống sót về lại đại đội, cậu phải chịu trách nhiệm bằng cái đầu của cậu, nghe chưa, tiểu đoàn trưởng. Tao lấy mẹ tao ra để thề đấy!
- Xin tuân lệnh, thưa đồng chí chỉ huy, - viên tiểu đoàn trưởng cũng nói bằng cái giọng rầu rĩ như thế.
- Còn bọn vô dụng này tao thậm chí chẳng muốn nhìn. Cho vào đại đội tiếp phẩm ! Cút mẹ chúng mày đi, bước!
Chúng tôi bị tách ra khỏi số còn lại và đưa đến đồn Nikolsky, ở đó đại đội vệ binh đang đóng quân.
Cái đồn binh hình bán nguyệt này được vây quanh bởi những mái dốc sụt lở mọc đầy cây cơm cháy, nó nằm trên bờ dốc đứng ngay trên sông Dniepr cạnh công viên Mariinsky. Thời trai trẻ tôi đã nhiều lần, đặc biệt là vào mùa xuân, dạo chơi trong cái công viên râm mát và vắng vẻ này. Tại đây tôi đã gặp người học sinh hải quân và lần đầu tiên cảm nhận nỗi thèm khát cháy bỏng về những cuộc hành trình ra biển khơi xa. Trong công viên này, dưới tiếng vo ve của đàn ong trong các bụi hoa nhài tôi đọc những bài thơ của nhiều nhà thơ khác nhau và tôi đã đọc đi đọc lại những câu thơ làm tôi xúc động, đọc mãi đến tận lúc trời tối. Bởi vậy đồn lính Nikolsky, xây bằng những viên gạch xám, với những lỗ châu mai, những cửa vòm, những thang leo tả tơi bằng các mấu sắt han gỉ, với những mõm sư tử bằng đồng trên các các cánh cổng gang, đối với tôi dường như đã trở thành một trong những nơi lãng mạn nhất trên thế giới.
Công viên vắng vẻ, hoang tàn. Những đám cỏ cao mọc trên bãi tập dùng làm nơi huấn luyện và kiểm tra. Dưới mái đồn lính những con chim én vào làm tổ. Mùi lá ấm và khô héo của mùa hè lọt vào những ô cửa sổ vỡ.
Đồn lính này chưa bao giờ có ai đến ở. Nó đã tồn tại nhiều năm như một công trình kiến trúc hoàn toàn của thời bình.
Cái ấn tượng này từ đồn lính Nikolsky từ lâu đã đi vào tâm thức của tôi, đến nỗi giờ đây tôi thấy vui vì sẽ phục vụ trong những bức tường của nó. Nhưng ngay từ phút đầu tiên cái cảm giác ngây thơ này đã bay biến, như hạt bụi. Bên trong đồn rất khó chịu và bẫn thỉu. Những bức tường mốc meo được viết đầy những câu thô tục và rung lên dưới tiếng gót giày, tiếng la hét, lời tục tĩu đủ loại, cầu kinh và ca hát. Bên trong đồn nổng nặc mùi trại lính, đến mức quần áo ngay lập tức và mãi mãi bốc ra cái mùi này.
Trong dãy hành lang đầy bụi với sàn bằng ván ghép không bào nhẵn người ta lại bắt chúng tôi đứng xếp hàng. Viên chỉ huy xanh xao yểu điệu của đại đội tiếp phẩm, có lẽ là một cựu sĩ quan, đến cạnh chúng tôi. Anh ta nhìn chúng tôi với vẻ thông cảm, đập roi vào chiếc ũng rồi nói:
- Thế nào? Đã nhìn thấy con chó dại rồi chứ? Giết chết thằng chỉ huy loại như hắn vẫn còn ít.
Anh ta nói chân thành hay để gây sự với chúng tôi, chúng tôi cũng không hiểu nữa. Để đề phòng bất trắc chúng tôi im lặng.
- Chà, các cậu này! – viên chỉ huy đại đội nói. – Đồ ma bùn. Bước xuống hầm gọt khoai tây đi.
Cho đến tận tối chúng tôi ngồi cạo vỏ khoai tây ướt ruổng trong căn hầm ngầm lạnh lẽo. Nước ẩm từ trên tường chảy xuống, Trong các góc tối lũ chuột cắn nhau chí chóe.
Ánh sáng chỉ lờ mờ trong chiếc chao đèn bé tí. Mấy ngón tay co quắp lại vì khoai tây lạnh và nhơn nhớt.
Chúng tôi thì thầm nói chuyện với nhau. Lúc đó tôi biết được người ngồi cạnh tôi – một người đàn ông nhỏ con và an phận thủ thường, đeo kính với đôi mắt u buồn đỏ quạch – tên là Iosif Morgenshtern, trước chiến tranh anh là công nhân nhà máy dao cạo râu ở Lodze.
Đêm chúng tôi quay lại doanh trại. Tôi nằm trên bộ phản trần và ngủ thiếp ngay.
Nửa đêm tôi thức giấc vì tiếng vó ngựa lộc cộc. Tôi mở mắt ra. Bóng đèn điện mờ mờ treo trên sợi dây điện dài từ trên trần nhà. Những tiếng ngáy đủ thứ giọng vang ra khắp bốn chung quanh. Đồng hồ trên tường chỉ ba giờ.
Trong ánh sáng vàng của ngọn đèn tôi nhìn thấy Antoshenko. Hắn cưỡi trên lưng con ngựa tía đi dọc theo dãy hành lang mái vòm, và những tấm đá lát kêu lộp cộp dưới vó con ngựa béo ú của hắn. Sợi dây điện thoại dã chiến mắc ngang qua hành lang làm vướng Antoshenko khi hắn đi qua. Hắn dừng ngựa, rút kiếm và cắt đứt sợi dây điện. Từ hành lang Antoshenko đi vào doanh trại chúng tôi, hắn dừng ngựa và quát to:
- Đại đội tiếp phẩm! Xếp hàng!
Những con người ngái ngủ sợ hãi vọt dậy khỏi giường và đứng xếp hàng. Hầu hết mọi người đều không giày dép, đứng chân trần trên sàn đá và rùng mình ngái ngủ.
- Thế này nhé, - Antoshenko bình tĩnh nói, - bây giờ tao sẽ gọi xạ thủ súng máy đến đây và ra lệnh bắn tất cả chúng mày, như bắn những con chim cút. Nghĩ mà xem, tao không ngờ chúng mày lại định giết chỉ huy của chúng mày, gọi tao là con chó dại.
Trong giọng nói của hắn rung lên những nốt điên dại.
- Xạ thủ súng máy đến đây! – hắn hét to, quay lại, và chỉ đến lúc đó chúng tôi mới nhìn thấy sau lưng Antoshenko, trong cửa trại lính có hai người cần vụ. Nó biến đâu rồi, thằng nghịch tử kia?
- Thưa đồng chí chỉ huy, - một trong hai người cần vụ dè dặt nói. - Lạy chúa, ta về thôi.
- Tao giết bây giờ! – Antoshenko hét lên man dại và lắc lư trên yên. – Tao xẻo da làm thắt lưng, cái thằng đeo kính kia. Tao cưa tất cả chúng mày bằng bánh cưa đĩa như cưa những con cừu.
Antoshenko thở khò khè. Bọt mép trào ra khỏi mồm, và hắn bắt đầu từ từ lắc lư trên yên.
Chúng tôi đứng bất động. Sau đó có cảm giác như mỗi người đều xuất hiện cùng một suy nghĩ, - nếu Antoshenko sẽ gọi xạ thủ súng máy đến thật thì sẽ lao đến chỗ giá đặt các khẩu súng trường, nạp đạu và khai hỏa.
Hai người cần vụ đỡ Antoshenko và dẫn ra hành lang, rồi từ đó đi ra ngoài sân. Con ngựa béo núc ních cứ thờ ơ, không chịu đứng yên một chỗ, đi theo sau họ.
Không một ai trong số chúng tôi, những người lính của đại đội hậu cần, những con người tình cờ rơi vào đại đội này, có thể hiểu được làm thế nào mà tại Kiev, bên cạnh Kreshatik, bên cạnh các nhà hát và trường đại học, với các thư viện và các buổi hòa nhạc giao hưởng, cuối cùng là bên cạnh những con người bình thường tử tế, lại có thể tồn tại một ổ những tên cướp đứng đầu là tên chỉ huy bệnh hoạn dại dại điên điên như vậy.
Sự tồn tại của trung đoàn này có lẽ là một cơn mê sảng. Mỗi phút Antoshenko có thể bắn bất cứ người nào trong chúng tôi Cuộc sống của mỗi người tùy thuộc vào cái gì lởn vởn trong đầu hắn.
Mỗi ngày chúng tôi chờ đợi những trò đùa mới của hắn, và hắn không bao giờ lỗi hẹn với chúng tôi trong việc này.
Chúng tôi ngồi không có lối thoát trong đồn lính Nikolsky. Không được phép ra khỏi doanh trại để vào thành phố. Nhưng nếu người ta có cho phép chúng tôi vào thành phố đi nữa, chúng tôi cũng chẳng biết kể cho ai về tất cả những việc ở trung đoàn. Mà việc kể lể này cũng chẳng được tích sự gì, - đơn giản là chẳng ai tin chúng tôi.
Chúng tôi đã quyết định viết về Antoshenko gửi lên chính phủ và ủy viên phụ trách quân sự Podvoisky(279), nhưng các sự kiện đã đi trước chúng tôi.
Mấy ngày liền tình hình yên ổn. Một bộ phận của trung đoàn được điều đến gần Tripol đánh với quân của Zelenny, các đại đội còn lại làm nhiệm vụ phòng vệ Kiev – bảo vệ các nhà kho và ga hàng hóa, tham gia các cuộc vây ráp bọn đầu cơ ở Bessarabka và cạnh quán cà phê nổi tiếng Semadeni ở Kreskatnik.
Nhưng không bao lâu sau, vào một đêm khuya trung đoàn bị dựng dậy theo lệnh báo động và xếp hàng đông đúc trên bãi rộng trước doanh trại. Chẳng ai biết được có việc gì xảy ra. Người ta nói với nhau là từ phía Sviatoshin có một băng cướp nào đó chưa ai biết đang tiến đến và chúng tôi phải đẩy nó ra khỏi thành phố.
Mỗi lo lắng nhỏ của các chiến sĩ cũng đều lan truyền sang đại đội tiếp phẩm chúng tôi, được trang bị những khẩu súng trường Nhật bản, nhưng không có băng đạn nào.
Chúng tôi đứng trên bãi tập và chờ đợi. Bên kia sông Dniepr hừng đông trong màn mưa đã ửng sáng. Những chiếc lá dẻ cuộn tròn, buông xuống như những ngón tay màu xanh múp míp. Thoảng mùi cỏ dại, và có thể nghe thấy trên gác chuông ở đồn lính Petchersky chuông đồng hồ điểm bốn tiếng, tiếng chuông đồng hồ chẳng ai cần đến.
- Trung đoàn chú ý, nghiêm! – mấy viên chỉ huy hô bằng những giọng khác nhau. Các chiến sĩ vươn người và đứng bất động.
Một chiếc xe ngựa sơn đen đi vào giữa khối người xếp hình vuông. Hai con ngựa orlovsky[1] – lông trắng với những đốm xám hình quả táo – đứng lại và bắt đầu dùng chân bới đất.
Antoshenko đứng trên xe, còn bên cạnh hắn là ba cô gái đội mũ. Các cô huých cùi chõ vào nhau, trầm trồ thán phục và cười ha hả.
- Trung đoàn chú ý, nghe đây! – Antoshenko hét to bằng cái giọng kéo dài của người say rượu và đưa thanh kiếm lên cao trên đầu. – Chung quanh cổ xe của tôi… các khối đội hình… với bài hát tôi yêu thích… diễu hành trọng thể… bước đều… bước!
Hắn hạ kiếm xuống. Trung đoàn vẫn đứng im. Chỉ có đại đội Makhnov đứng đầu tiên bước ngập ngừng, không đều, đi quanh cổ xe. Tiếng hát cất lên “Em đừng khóc nhé, Marusia ơi, em sẽ là của anh”, nhưng đến đó mọi người im bặt ngay, và trung đoàn đứng lại trong sự ngỡ ngàng.
- Bước! – Antoshenko hét lên bằng cái giọng hoang dại.
Trung đoàn vẫn đứng bất động và im lặng. Các cô gái thôi cười. Không khí yên lặng đến mức nghe được hơi thở đứt quãng tức giận của Antoshenko.
- Ái chà, chúng mày thế đấy, đồ trẻ con bất trị, - Antoshenko nói khàn khàn và lôi khẩu súng lục trong bao ra.
Ngay lúc đó từ những hàng cuối người ta hét lên sang sảng:
- Mày hãy tiêu khiển với những con điếm của mày, thằng chó đẻ! Đập hắn đi, anh em, cho hắn chết, cho hắn vào quan tài!
Một phát súng trường vang lên. Người xà ích của Antoshenko đánh hai con ngựa quay gấp lại, thậm chí chúng nhảy lồng lên – và chiếc xe ngựa phóng ra khỏi bãi, chạy theo con phố dọc hàng rào công viên Mariinsky.
Mấy phát súng trường bắn theo hắn. Sau đó hàng ngũ lộn xộn, vang lên những tiếng hô loạn xạ và tiếng chửi mắng bất lực. Đại đội Makhov bị dồn vào tường. Họ bắt đầu chống trả bằng báng súng. Tiếng huýt gió qua hai kẻ ngón tay vang lên the thé, bao trùm trên bãi tập và trên trại lính, tưởng chừng như trên khắp Kiev.
- Về doanh trại! Trật tự nào! – mấy viên chỉ huy hô, nhưng chẳng ai nghe,
Bắt đầu náo loạn.
Người ta đánh các binh lính Makhnov, tất nhiên vì đó là đại đội con cưng của Matoshenko. Nhưng binh sĩ Makhnov chiếm tầng trên của trại lính và bắt đầu bắn. Người ta đồng thời đánh cả lính của các đại đội Kashevar và Kapter.
Khó mà hiểu được những gì đang xảy ra. Tiếng hò hét điên dại vang khắp bãi tập, trên các cầu thang và các doanh trại. Ở đại đội tiếp phẩm chúng tôi, may thay, người ta không để ý đến, và chúng tôi quay về doanh trại của mình không bị tổn thất gì và cố thủ trong đó.
Cuộc hỗn chiến lắng xuống sau hai giờ, khi đồn lính Nikolsky bao vây đại đội Quốc tế bên cạnh – một đại đội gồm những tù binh người Hung ga ri và Áo. Đáng ngạc nhiên là không có người nào chết. Chỉ có một số bị thương.
CHIẾC QUẦN CHẼN MÀU HUYẾT DỤ CÓ ĐƯỜNG NẸP - Paustovsky K.
chauphanbach | 15 January, 2012 16:46
CHIẾC QUẦN CHẼN MÀU HUYẾT DỤ CÓ ĐƯỜNG NẸP
(Tiếp theo)
Sáng hôm sau, vào lúc mười một giờ, trung đoàn lại có lệnh báo động ra bãi tập. Mọi người đi lại lộn xộn và miễn cưỡng xếp vào đội hình. Người ta thông báo với trung đoàn là các thành viên của chính phủ sắp đến để nói chuyện với các binh sĩ và làm rõ mọi việc đã xảy ra. Tiếng thở dài nhẹ nhõm vang ra trong các hàng quân.
Ở trung tâm khối đội hình người ta dựng một lễ đài bằng gỗ ván. Không bao lâu sau các thành viên chính phủ đi xe đến, dẫn đầu là Rakovsky.
Trung đoàn “bồng súng” chào. Ban nhạc cử bài “Quốc tế ca”, và, nếu liếc nhìn các hàng quân đứng im chỉnh tề, không ai có thể nghĩ rằng mới mấy giờ trước đây trong trung đoàn đã xảy ra một cuộc hỗn chiến. Chỉ có một số chiến sĩ đầu còn quấn cuộn băng mới sau khi bị sây sát và chấn thương ban đêm.
Antoshenko lặng lẻ lên lễ đài. Hắn không nói lời chào với trung đoàn. Trên lễ đài hắn đứng bên cạnh các thành viên chính phủ và thậm chí còn cố xun xoe nói chuyện với họ, nhưng không ai trả lời hắn.
Người phát biểu đầu tiên là Rakovsky. Ông nói mềm mỏng và thân tình, trấn an các chiến sĩ rồi nói một ủy ban đặc biệt của chính phủ trong vòng ba ngày sẽ nghiên cứu tất cả các lời tố cáo về viên chỉ huy trung đoàn và trong trường hợp nếu những tố giác đó là đúng thì sẽ thực thi những biện pháp kiên quyết nhất.
Antoshenko đứng sau lưng Rakovsky. Hắn tức đỏ mặt, gò má với những vết sẹo đỏ giật giật vì tức tối. Hắn liên tục luống cuống, lúc thì nắm chặt vỏ thanh gươm, lúc lại buông ra. Cuối cùng Antoshenko không còn kiềm chế được, hắn gạt Rakovsky sang một bên và hét to:
- Thật vô lý, đồng chí Rakovsky, sao lại phải nói nhã nhặn như thế với bọn khát máu! Chính phủ nhịn nhục chúng mày, nhưng tao không muốn nhịn nhục. Việc gì tao phải hầu hạ từng thằng trẻ ranh. Tao sẽ nói chuyện với chúng mày theo cách của tao. Một là, - tại sao chúng mày, những đứa con mất dạy, nghĩ ra cái việc tố cáo cha chỉ huy của chúng mày với chính phủ đáng kính của chúng ta hả! Làm thế nào mà chúng mày được đằng chân lân đằng đầu như thế hả! Đáng lẽ chúng mày phải không được cắn, mà phải hôn tay tao. Ai làm cho chúng bay từ những tên cướp trở thành con người”? Tao, Antoshenko! Ai lo cho chúng mày giày dép, quần áo? Lại cũng là tao, Antoshenko! Ai nuôi chúng mày bằng cháo trứng với dầu thực vật và chu cấp hoàn toàn thuốc hút? Vẫn là vị chỉ huy, đồng chí Antoshenko. Nếu không có tao, người ta đã bắn hết chúng mày, bắn cả loạt, cầu chúa Khristinovka. Thế mà chúng mày lại cắn tao! Thế mà chúng mày lại làm loạn! Đồ hủi! Đấy là mày, thằng mặt trắng, - tiến ba bước lên trước! Nhưng không phải mày, mà là kia, thằng mặc áo ca pốt Áo. Ai cấp cho mày áo ca pốt thế? Trả lời xem?
Anh lính mặc áo ca pốt Áo từ trong hàng bước lên ba bước, đứng nghiêm, nhưng im lặng.
- Tao cung cấp cho mày mọi thứ. Tao, thủ lĩnh mũi hếch của mày! Còn ai đã cung cấp cho mày những chiếc xà cạp bằng len xanh, bằng vải chéo Anh chính hiệu? Mày không biết à, mắt mày không mở ra được à! Tao, vị chỉ huy Antoshenko, đã cho mày những thứ đó một cách bất hợp pháp, vì những chiếc xà cạp đó là của vị chỉ huy. Hối lỗi rồi hả, đồ chó đẻ. Sao mày nháy mắt và câm mồm lại thế? Bây giờ - việc thứ hai! Chúng mày dám khiếu nại chỉ huy, còn chính chúng mày lại mang bánh mì đi bán cho các thầy tu ở Lavra. Chúng mày nghĩ là tao không biết chứ gì! Còn đứa nào đem bán các áo ca pốt ở chợ Zhitny? Còn đứa nào lột quần áo mấy đứa con gái nhẹ dạ trên đồi Vladimir và thả trần truồng trên các phố? Tao biết hết. Tao biết mọi chân tơ kẻ tóc về chúng mày, - Antoshenko nắm vào và mở ra quả đấm tay tục tĩu. – Tao có thể đưa ra xử bắn ngay từng đứa chúng mày.
Viên sĩ quan tùy tùng định ngăn không cho Antoshenko nói nữa, nhưng hắn thậm chí chẳng thèm nhìn anh ta.
- Chúng mày nấu rượu ở tất cả các phòng, phá mặt nạ phòng độc làm ống ruột gà. Phung phí đạn vào những trò tiêu khiển mà lại nguy hiểm nữa chứ, khi không đủ đạn để đưa ra mặt trận chống lại những đầu lĩnh Ukraine lêu têu! Và còn nhiều tội nữa! Được chưa! Tao tha tội cho chúng mày trước chính phủ. Quỉ tha ma bắt chúng mày, trong tim tao không có gì căm ghét chúng mày. Thế thì tranh giành với chúng mày cái gì. Nếu vậy thì – toàn trung đoàn, nghe đây!
Antoshenko rút thanh kiếm cong ra. Lưỡi kiếm lấp lánh trong không khí buổi sáng ẩm ướt.
- Với bài ca trước lễ đài chính phủ cuộc duyệt binh trọng thể bắt đầu từ cánh phải bước đều… bước!
Đội nhạc cử hành điệu quân hành sôi động, và trung đoàn tiến bước loạc choạc diễu binh qua cạnh lễ đài. Đại đội đi đầu cất lên tiếng ca:
Con gà giò căng tròn,
Mang đôi hài sợi đay,
Đi dạo đến chỗ tắm,
Người ta đã tóm hắn,
Người ta đã tống giam,
Bắt phải trình căn cước.
Không đợi cho xong cuộc diễu binh, các thành viên chính phủ đã nhanh chóng bước xuống khỏi lễ đài và lên xe đi về.
Trung đoàn thắc mắc về tất cả những việc đã xảy ra. Mọi người đã tin rằng cấp trên sẽ cách chức Antoshenko khỏi vị trí chỉ huy và sẽ kỷ luật ông ta. Nhưng ngày nọ kế tiếp ngày kia trôi qua, và chẳng có gì thay đổi. Tất nhiên chính phủ không thích Antoshenko. Denikin đã chiếm Odessa. Tình hình rất căng thẳng.
Antoshenko đi đứng vênh váo và bắt đầu khủng bố tinh thần trong trung đoàn ác liệt hơn so với trước khi có cuộc binh biến nổi tiếng.
Người đã làm chấm dứt sự tồn tại nặng nề và khó chịu của trung đoàn vệ binh là anh lính thấp bé và ít nói, tên là Iosif Morgenshtern, mà tôi đã nhắc đến ở đầu chương này.
Người đàn ông tuyệt vọng nhỏ bé này căm thù cao độ Antoshenko, với sự phẫn uất lạnh lùng. Đặc biệt là sau khi Antoshenko thề sẽ “nghiền ra bã” tất cả những người Do thái trong trung đoàn và quét sạch khỏi trung đoàn lũ “quí tộc Jerusalem”.
Có lần, bất chấp qui tắc, người ta đưa đại đội chúng tôi đi tuần tra cạnh các kho hàng gần nghĩa trang Baikovo và thậm chí còn cấp hai băng đạn cho mỗi khẩu súng trường.
Đó là một đêm ấm trời. Không biết từ đâu thoang thoảng bay ra mùi hoa mattioli. Nửa đêm, trên bầu trời đen Kiev mảnh trăng lưỡi liềm sắp lặn xuất hiện và lơ lững trên màn đêm Ukraine không một tiếng động.
Để không bị buồn ngủ tôi hát nhẩm mấy bài ca bất kỳ. Khi tôi hát đến một bài hát cổ:
Không nghe thấy tiếng ồn của thành phố.
Bên kia tháp Nevsky là sự tĩnh lặng,
Và trên đầu lưỡi lê của người lính gác
Lấp lánh ánh trăng khuya[1], -
bỗng nghe tiếng vó ngựa. Có ai đó đến cạnh nhà kho và vừa chửi thề vừa nhảy xuống khỏi yên ngựa. Tôi nhận ra giọng nói của Antshenko. Thỉnh thoảng ban đêm hắn đi kiểm tra lính gác.
Antoshenko đến cạnh nhà kho. Morgenshtern đang đứng canh ở cửa kho.
- Ai đi đó? – anh ấy quát to bằng cái giọng kim của mình.
- Mày làm sao thế, quá chén à, đồ tai lợn! – Antoshenko quát to. – Không nhìn thấy ai đi đây à?
Tất nhiên Morgenshtern biết ngay đó là viên chỉ huy, nhưng làm như chấp hành điều lệnh, anh hô to ba lần liên tiếp: “Ai đi đó? Ai đi đó? Ai đi đó?” – và không đợi Antoshenko trả lời, anh bắn trực diện vào người hắn và giết hắn chết tươi.
Mọi việc kết thúc bằng việc người ta bắt giam Morgenshtern, nhưng sau một ngày người ta thả anh ấy ra, và trung đoàn được giải thể ngay. Đại đội tiếp phẩm của chúng tôi được người ta cho ai về nhà nấy.
Tôi đi về nhà vào lúc chập choạng tối dọc theo phố Đại học cạnh tòa nhà ngân hàng chính phủ được xây dựng theo ý tưởng thất thường của một kiến trúc sư dưới “Lâu đài mưa”[2] ở Venetsia.
Trời oi ả, cơn giông đang đến, và trên các hàng cột nhẵn bóng của nhà ngân hàng lấp lánh những chớp sáng. Ngọn gió mát khua xào xạc trên các tán cây dẻ rồi tắt lịm.
Sau ô cửa sổ để mở không một ánh đèn có người nào đó đang dạo một khúc nhạc trên đàn piano và hát bằng giọng nam trung: “Anh ấy ở xa, anh ấy đâu biết được, và không hiểu hết nỗi buồn của em”[3]. Từ trong mảnh vườn bay ra mùi cỏ ướt.
Và tôi chợt nhớ đến cái đêm sau buổi liên hoan chia tay trường trung học, khi dọc theo con phố Đại học này, dưới những tán dẻ kia tôi đưa tiễn Olia Bogusevich về nhà. Chiếc váy nàng mặc lúc đó tôi cảm thấy thật sang trọng thậm chí cả trong buổi tối lễ hội đó, và cả người nàng thật xinh tươi và vui vẻ.
Tôi nhớ đến buổi tối hôm đó, nhớ mấy ngón tay mát lạnh vì hồi hộp của nàng, khi chúng tôi chia tay cạnh nhà nàng, và đôi mắt khắc khoải của nàng ngời lên trong ánh sáng của ngọn đèn đường. Và tất cả những gì lúc đó đối với tôi tưởng chừng như là một giấc mộng không thể nào có được của một thời xa xưa cách đây hàng thế kỷ.
Không thể nào tin được là bên cạnh cái thế giới này, thế giới của những ánh chớp và những cây dẻ, của những đám cỏ xanh tươi và của những giọng người bình thản, của sự dịu dàng và niềm xúc động thiếu nữ, của những quyển sách, những bài thơ và những niềm hy vọng thầm kín – cái thế giới trong sáng và giản dị này – tại đây lại có thể sống một kẻ cuồng tín với ánh mắt điên dại, một tên Antoshenko khát máu, một “con quỷ độc”, như Morgenshtern thường nói về hắn. Và bất chợt nghĩ rằng, - tấm màn văn hóa còn mỏng manh biết bao mà bên dưới nó là những khối nước ngấm ngầm không đáy hoang dã và tối tăm. Nhưng ánh sáng của tư tưởng con người đang chiếu rọi vào những khối nước này đến tận đáy. Đó chính là nhiệm vụ trọng đại của tương lai chúng ta, của sự nghiệp chúng ta, của cuộc sống còn chưa ổn định của chúng ta.
*
Hơn hai mươi năm sau tôi có lần được phát biểu giữa những bạn đọc trong thư viện của thành phố Alma-Ata. Trời cuối thu, những chiếc lá dương cứng và khô khua xào xạc. Những con mương đưa từ trên các ngọn núi xuống dòng nước giá băng, thoảng mùi biển khơi. Trên các đỉnh núi Alma-Ata bầu trời sậm sịt, và bên kia các ngọn núi là nước Ấn độ xa lạ.
Sau khi phát biểu có một người đàn ông thấp, tóc bạc trắng, với đôi mắt buồn rười rượi, đến gặp tôi.
- Anh còn nhớ tôi không? – ông hỏi.
- Không. Tôi không nhớ.
- Tôi là Morgenshtern. Chúng tôi đã ở với anh trong trung đoàn vệ binh ở Kiev.
- Bây giờ anh làm gì? – tôi hỏi.
- Điều đó không quan trọng, - ông trả lời và mỉm cười. – Nhưng tôi thấy vui cho anh. Tất nhiên anh sẽ phải gồng mình lên trong văn học vì tất cả những người mà anh gặp gỡ trong cuộc đời. Trong số đó cũng vì cả Morgenshtern, người cùng trung đoàn của anh.
[1] “Không nghe thấy tiếng ồn của thành phố…” – Trích thơ “Bài ca người tù” của F.N. Glinka. Trong thơ của Glinka có dòng thứ hai: “Sau tháp Nevsky là sự tĩnh lặng…”; trong tác phẫm trích dẫn bài ca này đã đi vào trong thi phẩm “Mười hai” của A. Blok.
[2] “Lâu đài mưa” ở Venetsia. – Nguyên trước đây là Điền trang mưa, một di sản kiến trúc nổi tiếng của Ý. Được xây dựng vào thế kỷ XIV-XV, sau đó được khôi phục lại.
[3] “Anh ấy ở xa, anh ấy đâu biết được, và không hiểu hết nỗi buồn của em”. – Một câu trong bài thơ “Con quỷ” của M.Iu. Lermontov. Ở đây ngụ ý nói đến khúc ca Con quỷ trong vở nhạc kịch “Con quỷ” của Rubinshtein.
“CHỒNG EM LÀ BÔNSHEVICH, CÒN EM LÀ QUÂN GAIDAMAK” - Paustovsky K.
chauphanbach | 09 January, 2012 08:47
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 3. Bắt đầu một thế kỷ chưa từng có:
>> 1. Xoáy nước
>> 2. Những ngọn đuốc xanh
>> 3. Hiệu cà phê của các nhà báo
>> 4. Gian phòng họp có giếng phun
>> 5. Khu vực tĩnh lặng
>> 6. Cuộc bạo động
>> 7. Tư liệu về lịch sử các biệt thự ở Moskva
>> 8. Vài lời giải thích
>> 9. Toa tàu có lò sưởi trên tuyến đường sắt Riga-Orlovsky
>> 10. Vùng đệm
>> 11. "Vị tư lệnh khố rách áo ôm của chúng tôi"
>> 12. Tia tử ngoại
>> 13. "Chồng em là bôn shevich, còn em là quân Gaidamak"
“CHỒNG EM LÀ BÔNSHEVICH, CÒN EM LÀ QUÂN GAIDAMAK”
Trên mấy bức tường xuất hiện những tờ giấy còn ướt mực, in những chỉ thị nghiêm ngặt của Ủy ban quân sự cách mạng.
Các chỉ thị ngắn gọn và xác đáng. Với thái độ thẳng tay và vô điều kiện, các chỉ thị đã phân chia nhân dân Kiev thành hai loại: loại người đứng đắn và loại người cặn bã.
Người ta bắt đầu tẩy rửa loại cặn bã, nhưng dường như chúng không nhiều lắm. Chính bọn cặn bã cũng bay biến đến những nơi hẽo lánh, nơi chúng trụ lại để chờ đợi thời cơ tốt hơn.
Lại xảy ra cái tình hình mà tôi đã từng trải qua ở Moskva, nhưng mang tính chất khác. Mọi người lại chịu thêm gánh nặng của sự tùy tiện và vô tâm.
Trung đoàn Bogun (nó được đặt tên như thế để tưởng nhớ người bạn chiến đấu Bogdan Khmelnitsky của đại tá Bogun[1]) đóng quân rải rác trong các căn nhà ở Kiev.
Có bốn người lính Bogun được bố trí đến ở trong căn hộ với chúng tôi. Họ mang đến những quả bom bay, đặt cẩn thận chúng ở phòng ngoài bên dưới chiếc mắc áo uốn cong kiểu Viên và bảo bà Amilia:
- Này bà, mụ gà mái kia, chớ có cẩu thả chạm vào dụng cụ này nhé. Kẽo nó nổ ra thì cả ngôi nhà của bà cùng toàn bộ đồ đạc chỉ còn là giấc mộng thôi đấy. Hiểu không?
- Hiểu rồi, - bà Amalia trả lời, môi mím chặt và mở ngay cánh cửa ra lối đi tắt từ lâu vẫn khóa chặt.
Từ đó trở đi không ai đi qua cửa chính nữa.
Thật khó mà hiểu được bằng cách nào mà những người lính Bogun có thể di chuyển được trên mặt đất với ngần ấy vũ khí. Ở đó có đủ mọi thứ: súng máy, lựu đạn, súng trường, súng nòng ngắn, lưỡi lê, súng lục, dao găm, kiếm và, ngoài ra, cả những ống sáo màu đỏ và màu tím như một hồi ức về cuộc sống hòa bình đa cảm.
Những binh lính Bogun vừa tiếp quản thành phố thì từ mọi ô cửa sổ đã vang ra tiếng hát của những bài tình ca từ lâu bị quên lãng. Một giọng nam trung da diết lại than thở rằng anh chẳng còn vội vã đi đâu và không còn ai để yêu mến nữa, một giọng nam cao ca thán rằng mùa xuân sẽ không đến với anh ta, và đối với anh ta thì Bug[2] đã không còn nữa và trái tim đập rộn ràng sung sướng, không phải cho anh, không phải cho anh.
Lại là Viatseva, con hải âu xinh đẹp, vừa hát vừa nhảy cẩng lên với “cổ xe tam mã lên đường”[3], và gục chết trên hồ nước ửng hồng.
Mọi thứ cứ rối tung, - Varia Panina và những quả lựu đạn, mùi iodofoc và “ngôn ngữ” Ukraine như tiếng hát, những băng đỏ trên chiếc mũ lông và những buổi hòa nhạc giao hưởng, niềm hy vọng của các binh sĩ Bogun về những đầm lầy yên tĩnh giữa các cánh rừng lá rộng mùa xuân và những cuộc vây ráp ầm ĩ loạn xạ ở các khu chợ.
Sống với người vợ trong căn hộ tầng dưới chúng tôi là kỹ sư Beleliubsky, một cụ già lọm khọm và nhân từ. Lúc nào cụ cũng tự vinh danh mình là người xây dựng chiếc cầu Syzran nổi tiếng qua sông Volga.
Hai ông bà Beleliubsky có một người hầu – cô gái Motria má hồng vui tính.
Một viên chuẩn úy lính Bogun phải lòng cô ta và nằng nặc đòi cưới. Motria đang phân vân. Cô có một số quan niệm cổ điển về hôn nhân. Cô sợ rằng anh lính Bogun – như người nay đây mai đó, đầu óc bất trị - sẽ sống cùng cô ta mấy ngày, rồi sau đó thế nào cũng bỏ rơi.
Có lần Moria đến gặp tôi và với vẻ e thẹn của một thiếu nữ nông thôn cô đã kể rằng suýt nữa cô đã ngủ với anh chuẩn úy, nhưng rồi cô bỏ chạy và bây giờ chỉ đồng ý gần gũi với điều kiện nếu anh lính Bogun cưới cô theo “đúng luật” và tình yêu của họ sẽ suốt đời.
Cô đọc cho tôi viết bức thư gửi anh lính Bogun. Bức thư chỉ có ba từ: “Đồng ý, nếu suốt đời”. Tôi đã viết bằng những chữ in hoa thật to.
Khoảng một giờ sau khi nhận được bức thư này, anh lính Bogun bắt đầu khua giày ầm ĩ, chửi loạn xạ và đe dọa bắn bỏ, lục tung khắp căn hộ để tìm con dấu của đại đội.
- Chúng mày bỏ con dấu ở đâu, hả quân ăn cướp mặt mo? – Anh ta quát mắng những người lính dưới quyền. – Tao bắn tất, như bắn những con lừa. Nếu không tìm ra con dấu ngay cho tao!
Căn nhà rung lên bởi tiếng thình thịch của đế giày. Viên chuẩn úy lục bới ba lô đồ đạc của các chiến sĩ.
Cuối cùng con dấu đã được tìm thấy. Viên chuẩn úy viết trên mẫu giấy: “Anh thề là suốt đời”, - đóng dấu đại đội lên mẫu giấy để tăng thêm độ tin cậy rồi gửi cho Motria. Và Motria đã nhận lời.
Sau một ngày người ta đã tổ chức một lễ cưới sôi động. Đến lễ cưới có mấy chiếc xe ngựa. Trên bờm mấy con ngựa dữ tợn có đính những dải băng. Và mặc dù nhà thờ Vladimir, nơi tiến hành lễ đính hôn chỉ cách nhà chúng tôi không quá hai trăm mét, đoàn xe cưới gồm mấy chiếc xe ngựa đã bon bon đến nhà thờ rồi đi quanh nhà thờ mấy vòng dưới liếng lục lạc leng keng, tiếng ngựa hí, tiếng huýt gió và bài hát vui nhộn:
Em ngồi trên trên chiếc thùng phuy,
Dưới thùng – lúc la lúc lắc,
Chồng em bônshevich,
Còn em – quân gaidamak!
Kìa, quả táo, mày rơi vào đâu.
Rơi vào anh lính Bogun – đừng quay lại nhé!
Bogun của chúng tôi – vị chỉ huy
Con người dũng cảm
Khắp người đầy vết thương và vết sẹo
Đã lành lặn lại rồi!
Khi mọi người hát điệp khúc “Kìa, quả táo, mày rơi vào đâu”, - những người ngồi trên xe dừng ngựa lại, và những con ngựa, bực tức, lắc bờm, đi giật lùi rồi nhảy theo nhịp bài hát. Chúng diễn thật điêu luyện, và đám đông những người tò mò đã tập trung ở nhà thờ Vladimir chào đón những binh sĩ Bogun bằng những tiếng hò reo náo nhiệt.
Đến ngày thứ ba sau lễ cưới (chẳng hiểu vì sao mọi sự khó chịu đều xảy ra vào ngày thứ ba) các binh sĩ Bogun bị báo động gọi dậy vào lúc nửa đêm.
Họ miễn cưỡng tập họp, im lặng và đáp lại thắc mắc người ta trả lời gọn lõn:
- Người ta điều đến Zhitomir. Để lập lại trật tự. Ở đó các cha cố đang bạo động.
Motria đứng run rẫy. Những lo sợ của cô đã có lý – tất nhiên chàng chuẩn úy sẽ bỏ cô mà đi và không bao giờ còn trở về. Lúc đó chàng chuẩn úy trở nên hung dữ.
- Xua tất cả những người sống trong căn hộ vào sân! – anh ta hét bảo các binh sĩ, và để khẳng định chỉ thị này, từ cầu thang anh bắn một phát súng lên trần nhà. – Cho họ vào hết trong sân, đồ tầm gửi! Đuổi hết đi!
Người ta xua các cư dân đang sợ hãi vào trong sân. Đó là vào một đêm cuối đông. Sương muối lạnh buốt dày đặc trong bầu trời mờ mịt. Các bà phụ nữ khóc lóc, ôm chặt những đứa bé ngái ngủ run rẫy vào người.
- Thôi đừng than vãn nữa, - các binh sĩ nói. – Các vị sẽ không việc gì đâu. Chỉ huy của chúng tôi nổi nóng vì cô Motria khỉ gió này.
Viên chuẩn úy hô trung đội của mình xếp hàng đối diện trước đám đông cư dân đang khiếp sợ rồi tiến lên phía trước. Anh dắt tay cô Motria đang khóc than.
Anh dừng lại giữa khoảng sân sáng mờ, rút từ trong bao kiếm ra một thanh kiếm kỵ binh, lấy lưỡi kiếm vạch một chữ thập lớn lên mặt băng và nói to:
- Hỡi các chiến sĩ và những công dân tự do của nước Nga tự do! Các bạn hãy làm chứng cho, tôi vạch cây thập tự trước các bạn trên mảnh đất thân yêu này, để thề sẽ không bỏ rơi cô gái đẹp này và nhất định sẽ trở về với cô. Và tôi sẽ sống cùng cô trong ngôi nhà của mình ở làng Moshna cạnh thành phố Kanev nổi tiếng, ở đó tôi sẽ đăng ký và tuyên thệ chính thức.
Anh ôm cô Motria đang nức nở khóc, sau đó đẩy nhẹ cô ra và hô:
- Lên xe! Nhanh!
Binh lính chạy bổ về phía mấy chiếc xe ngựa. Dưới tiếng huýt gió và tiếng hát bài “Quả táo” mấy chiếc xe ngựa phóng ra khỏi sân và, tiếng bánh xe khua lọc cọc, đoàn xe chạy theo phố Bibikovsky về phía đại lộ Zhitomirsky.
Mọi việc đã xong. Motria lau nước mắt, nói: “Mà anh ấy nói như thế đấy, một kẻ vô thần đáng ghét!” – rồi quay về căn hộ của ông bà Beleliubsky, nơi những con chó nhỏ đang sủa ăng ẳng. Cuộc sống lại tiếp diễn theo nề nếp quen thuộc của nó.
Mọi thứ dường như bỗng nhiên phai dần. Và một thời gian sau người dân Kiev bắt đầu nhắc đến những người lính Bogun với sự luyến tiếc. Đó là những chàng trai vô tư và vui vẻ, nhưng vô cùng dũng cảm. Họ mang theo mình mùi thuốc súng, những ngọn cờ đỏ và lòng trung thành vô hạn đối với cách mạng. Họ đến rồi đi, nhưng trên thành phố vẫn âm vang, không tàn lụi, ngọn gió lãng mạn cách mạng và làm cho mọi người dân Kiev đã quen với họ cùng cười tươi vui vẻ.
Vào thời kỳ ấy người chỉ huy của các chiến sĩ Bogun là Shors[4]. Tên ông không bao lâu sau đó đã trở thành huyền thoại.
Lần đầu tiên tôi nghe về Shors qua lời các chiến sĩ Bogun. Tôi đã nghe những câu chuyện hào hùng về vị chỉ huy tài ba, gan dạ và dũng cảm chưa từng thấy.
Tôi còn nhớ mãi tình cảm chân thành, hầu như rất trẻ con đối với Shors đã tác động nhiều nhất đến tôi lúc đó như thế nào. Trong mắt các chiến sĩ Bogun thể hiện tất cả những đức tính tốt nhất của vị thống soái – sự kiên quyết, mưu lược, công tâm, tình yêu đối với con người bình thường và chủ nghĩa lãng mạn tỉnh táo không bao giờ vơi đi trong ông, nếu có thể diễn đạt như thế.
Các chiến sĩ Bogun là những chàng trai. Và Shors cũng còn trẻ. Sự trẻ trung của họ và niềm tin vào chiến thắng của cách mạng đã biến đơn vị quân đội thành một tập hợp những người anh em, được gắn kết bằng một khí thế chung và một dòng nhiệt huyết chung.
Không một sự kiện bên ngoài nào có thể làm chậm sự vận động của những dòng nhựa trong thân cây. Bởi vậy mùa xuân đã về đúng lúc của nó, dòng sông Dniepr chảy tràn bờ, trên cánh đồng hoang cỏ dại đã mọc cao hơn đầu người, còn những cây dẻ bạch đầu đã phủ một tán lá mơn mởn và nở hoa rực rỡ.
Đôi lúc có cảm giác như thứ duy nhất còn chưa bị động chạm đến trên thế giới này, đó là tán lá dẻ. Nó vẫn cứ xào xạc trên vỉa hè, tỏa bóng râm dày đặc. Và những bông hoa chúm chím mập mạp má hồng hơi hé nụ vẫn dịu dàng và bất ngờ bắt đầu buông xuống trên cành cây. Nhưng trong bóng râm dưới các cây dẻ không còn nhìn thấy những học sinh trung học quen thuộc với những ánh mắt trong sáng lấp lánh. Giờ đây bên cạnh những cánh hoa khô rơi xuống trên vỉa hè lác đác những vỏ đạn súng trường và những mẩu bông băng bẩn thỉu nhàu nát.
Mùa xuân đã bừng lên trên Kiev, tỏa xuống thành phố màu xanh của mình, cho đến khi trong các khu vườn những cây bồ để nở hoa. Mùi hoa bồ đề lan tỏa vào những căn nhà hoang vắng suốt mùa đông và buộc những người dân thành phố mở toang các cánh cửa sổ và ban công.
Lúc đó mùa hè tràn vào căn phòng cùng với những cơn gió nhẹ và không khí ấm áp. Và trong cái tĩnh mịch này của mùa hè mọi sợ hãi và rủi ro đều tan biến.
Thật ra, không có bánh mì, và thay vì bánh mì chúng tôi ăn khoai tây bảo quản lạnh lâu ngày.
Tôi vào làm việc trong một công sở gì đó khá kỳ quặc. Không thể nào đặt một cái tên rút gọn cho công sở này. Tôi chỉ nhớ mấy chữ đầu: “Obgubsnabchynrod…”, và tiếp theo sau là cái gì đó phức tạp đến nỗi cả vị thủ trưởng của công sở này – một người Armeni với hàm râu đen lơ thơ và khẩu súng lục đeo ở cổ (như người ta đeo các máy ảnh), cứ mỗi lần ký giấy đều càu nhàu và bực mình.
Cái công sở này làm công việc gì, khó mà nói được. Chủ yếu là làm vải thô. Tất cả các căn phòng và hành lang chất đầy những kiện vải thô. Vải không giao cho ai dưới bất kỳ hình thức nào, nhưng lúc nào cũng khi thì đưa ra, khi thì cho vào kho, khi lại đưa vào công sở và để ngổn ngang khắp các hành lang. Với sự quay vòng khó hiểu của cùng những kiện vải thô này, những nhân viên của công sở đều sửng sốt.
Tôi có nhiều thời gian rãnh rỗi. Tôi cố tìm những người bạn cùng học trung học của mình, nhưng hầu như chẳng còn ai trong thành phố, trừ Emma Shmukler. Nhưng tôi cũng ít khi gặp hắn. Hắn trở nên lầm lì và buồn bã, có thể đó là do hắn phải từ bỏ ngành hội họa mà hắn yêu thích vì những người thân. Bố của Emma bị ốm, và toàn bộ gánh nặng lo toan cho gia đình Emma phải gánh vác. Lo cho khỏi đói, lo bị trưng tập, lo bị vây hãm, lo bị đuổi đi chỗ khác, lo bị quân Petliura tàn sát và lo lính đến đóng quân trong nhà.
Cũng như những năm thời còn là học sinh trung học, tối tối tôi lại đến các buổi hòa nhạc tại công viên hội nghị Kypetchesky trước đây. Những bông hoa hồng và hoa chuối không còn nở trong công viên. Chúng được thay bằng cây bạc hà và ngải cứu
Trên nền một tác phẩm âm nhạc thường xen vào những âm thanh ngoại lai – tiếng nổ xa xa hoặc tiếng súng. Nhưng không ai chú ý đến điều này.
Trong những ngày đó ở Kiev tôi bắt đầu nghiền ngẫm những quyển sách của nhà thần bí học vĩ đại trong văn học - một người Pháp vĩ đại: Stendal. Nhưng tôi không trầm tư mặc tưởng với bản chất thần bí học của ông.
Tôi coi chúng hoàn toàn hợp qui luật, cũng như cả bây giờ tôi cũng coi như vậy. Chúng hợp qui luật vì chúng đã chứng kiến biết bao nhiêu những tư tưởng và phương cách khác nhau, vì vậy thật vô nghĩa nếu gộp chúng vào trong một cái tên chung. Không ai tin được rằng cũng chính một con người đó lại có thể đi sâu vào những lĩnh vực đối lập nhau của cuộc sống con người – vào hội họa, các phương pháp buôn bán sắt thép, vào đời sống tỉnh lẽ của nước Pháp, vào cảnh nhốn nháo của trận Waterlo, vào môn khoa học quyến rũ phụ nữ, vào sự phủ nhận thế kỷ tư sản, vào những công việc quân nhu, vào âm nhạc của Domenico Cimarosa[5] và Haydn[6].
Khi tôi đã biết rằng những quyển nhật ký uyên bác và chứa đầy những sự kiện sống động và những tư tưởng của Stendal phần lớn là hư cấu, nhưng dù là người am hiểu tinh thông về thời đại của Stendal cũng không thể chê bai những quyển nhật ký này, tôi đã bất giác cảm thấy bái phục trước thiên tài và dũng khí văn chương của con người đơn độc và thần thoại này.
Từ đó trở đi ông trở thành người bạn bí hiểm của tôi. Khó mà nói được đã bao nhiêu lần tôi thực hiện những chuyến ngao du qua thành Roma và Vaticăng, bao nhiêu chuyến đi qua các thành phố cổ kính của Pháp, bao nhiêu vở diễn đã được xem trong nhà hát La Skala và bao nhiêu cuộc đàm đạo tôi đã được nghe từ những con người thông thái nhất của thế kỷ hai mươi với con người vụng về này.
Không bao lâu sau đó một dịp may mắn đã đến với tôi. Các nhà văn Mikhail Koltsov[7] và Efim Zozuly[8] từ Moskva đã đến Kiev. Hai ông bắt đầu xuất bản tạp chí nghệ thuật, và tôi được nhận vào làm thư ký văn học ở đó. Công việc không nhiều lắm. Tạp chí xuất bản một tập mỏng, như quyển vở học sinh, với một nửa là những trang đáng vứt.
Với lòng tự tin, nhà văn Koltsov hóm hĩnh và vui nhộn hầu như không có mặt ở tòa soạn. Hôm nào tôi cũng ngồi suốt ngày trong cùng một phòng với Efim Zozul, - một người đàn ông cận thị, khoan dung và nhân hậu đến mức không giống một phái viên nghiêm khắc của Moskva chút nào.
Tôi đưa cho ông Zozul xem phần mở đầu truyện dài đầu tiên viết dở dang của mình: “Những người mơ mộng“. Ông thật sự khen ngợi tập truyện, mặc dù có nói rằng tôi quá đam mê việc tự mổ xẻ và, ngoài ra tôi viết hơi dài dòng.
Lúc đó Zozul đang viết loạt truyện ngắn năm-sáu dòng mỗi truyện. Chính ông bảo rằng chúng “ngắn hơn cái mỏ quạ“. Những câu chuyện này giống như những chuyện ngụ ngôn. Mỗi chuyện bao hàm trong nó một đạo lý chuẩn mực.
Zozul nghĩ rằng văn học là một nghề giáo, một thuyết pháp. Còn tôi thì cho rằng nó có chức phận cao cả hơn nhiều, và vì vậy tôi thường tranh cãi với Zozul.
Lúc đó tôi đã tin rằng nền văn học đích thực là sự diễn đạt trong sáng nhất trí tuệ và tâm hồn của con người tự do, rằng chỉ có trong văn học con người mới mở ra toàn bộ sự phong phú và phức tạp của tinh thần và sức mạnh tiềm tàng của mình và bằng cách đó mà chuộc lại vô số những lỗi lầm trong cuộc sống thường nhật. Tôi nghĩ rằng văn học là món quà mang đến cho chúng ta từ một tương lai xa xôi và quí giá, rằng trong nó hòa trộn từ thế kỷ này sang thế kỷ khác hoài bão về hoàn thiện thế giới, về sự hài hòa của nó, về sự bất diệt của tình yêu, mặc dù mỗi ngày nó lại sinh ra và tàn lụi đi. Như tiếng vọng của chiếc vỏ ốc biển gợi cho ta ước muốn nhìn thấy những vùng nước êm đềm và xanh biếc trong bóng tối buổi bình minh, làm cho ta buồn nhớ làn khói bạc của những đám mây bay về phía chân trời, nhớ những đại dương ozon hình thành trên những cánh rừng ẩm ướt và làm chúng ta mát mắt, nhớ mùa hè vĩnh cữu và giọng nói lánh lót của trẻ con, nhớ cái yên tĩnh hòa bình sâu lắng – người bạn đồng hành của những suy tư.
Văn học là như vậy. Bằng tiếng vọng nào đó ngầm dưới nước, tiếng vọng thứ cấp, xa xăm và đồng thời lại rất gần gũi, văn học đưa chúng ta đến gần với thời đại kỷ nguyên vàng của những tư tưởng, những hành động và những tình cảm của chúng ta.
*
Trong khi tôi đang tranh luận với Zozul về văn học, thì những tên đầu lĩnh vô liêm sĩ Zelenny và Stuk đang ẩn náu chung quanh Kiev và lúc chỗ này, lúc chỗ kia tấn công vào các vùng ngoại ô thành phố. Có lần Stuk đã chiếm được cả Podol, và phải khó khăn lắm mới đánh bật hắn ra khỏi nơi đó.
Từ phía nam quân của Denikin đang tiến lên. Trên các vùng thảo nguyên gần Krementchug quân Nestor Makhno đang quấy nhiễu.
Về việc này trong thành phố người ta ít nói đến và dường như mọi người không coi những sự kiện này có ý nghĩa gì đặc biệt. Có quá nhiều tin đồn đến nổi cả những việc có thật cũng chẳng ai tin.
[1] Bogun Ivan (?-1664) – anh hùng của cuộc chiến tranh giải phóng Ukraine, đại tá, bạn chiến đấu của Bogdan Khmelnitsky (ND).
[2] Bug – Con sông lớn duy nhất của Ukraine, dài 806km, chảy qua toàn bộ lãnh thổ nước này, với diện tích lưu vực 63.700km2 (ND).
[3] “cổ xe tam mã lên đường” – bài hát tình ca cổ của Nga (ND).
[4] Shors Nikolai Aleksandrovich (1895-1919) – anh hùng của cuộc nội chiến, chỉ huy trung đoàn Bugun và các đơn vị quân đội khác trong những trận đánh với quân Petliura và quân Ba lan.
[5] Cimarosa Domenico (1749-1801) – nhà soạn nhạc Ý, nghệ sĩ dương cầm, nghệ sĩ vĩ cầm, ca sĩ, tác giả vở nhạc kịch “Cuộc hôn nhân bí mật”.
[6] Haydn Franz Joseph (1732-1809) – nhạc sĩ Áo.
[7] Koltsov Mikhail Efimovich (1898-1942) – nhà văn Nga xô viết.
[8] Zozul Efim Davidovich (1891-1941) – nhà văn Nga xô viết.
TIA TỬ NGOẠI - Paustovsky K.
chauphanbach | 06 January, 2012 21:52
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 3. Bắt đầu một thế kỷ chưa từng có:
>> 1. Xoáy nước
>> 2. Những ngọn đuốc xanh
>> 3. Hiệu cà phê của các nhà báo
>> 4. Gian phòng họp có giếng phun
>> 5. Khu vực tĩnh lặng
>> 6. Cuộc bạo động
>> 7. Tư liệu về lịch sử các biệt thự ở Moskva
>> 8. Vài lời giải thích
>> 9. Toa tàu có lò sưởi trên tuyến đường sắt Riga-Orlovsky
>> 10. Vùng đệm
>> 11. "Vị tư lệnh khố rách áo ôm của chúng tôi"
>> 12. Tia tử ngoại
TIA TỬ NGOẠI
Việc hô thật to câu “slava!” còn khó hơn nhiều so với hô “ura!”[1]. Dù có hô thế nào đi nữa, vẫn không đạt được tiếng vang thật to. Từ phía xa vẫn luôn có cảm giác rằng người ta hô không phải từ “slava”, mà là “ava”, “ava”, “ava”. Nói chung từ này có vẻ không tiện cho lắm đối với các cuộc diễu binh và biểu tình quần chúng. Đặc biệt là khi nó được hô bởi những người đứng tuổi đội mũ lông và áo khoác ngắn cổ lỗ sĩ nhăn nheo mới lôi từ trong hòm ra.
Bởi vậy, khi vào một buổi sáng từ trong phòng mình nghe thấy tiếng “ava, ava”, tôi đoán rằng chính “thủ lĩnh quân đội Ukraine và phe Gaidamak” ngài Petliura đã đến Kiev trên lưng con ngựa bạch.
Ngày hôm trước người ta đã dán các thông báo của tư lệnh quân quản. Trong đó với sự bình thản như sử thi và hoàn toàn không phải chuyện hài hước đã thông báo rằng Petliura sẽ đến Kiev với danh nghĩa người đứng đầu chính phủ - thủ tướng lâm thời – bằng con ngựa bạch do những công nhân đường sắt Zhmerinsky tặng ông ta.
Tại sao những công nhân đường sắt Zhmeerinsky lại tặng Petliura một con ngựa, mà không phải là một chiếc ô tô ray hoặc chỉ là một đầu máy dồn toa, là điều không hiểu nổi.
Petliura không đánh lừa sự mong đợi của dân Kiev, từ những cô hầu phòng, con buôn, cho đến các bà gia sư và các chủ tiệm. Đúng là ông ta đã đến cái thành phố vừa chiếm được trên lưng con ngựa bạch khá hiền lành.
Con ngựa được đắp trên lưng một tấm chăn màu xanh có đường viền vàng. Còn trên người Petliura mặc chiếc áo khoác ngắn nhồi bông kiểu cổ. Đồ vật trang điểm duy nhất là một thanh kiếm cong Zaporozh, có lẽ lấy từ viện bảo tàng, - cọ bên đùi ông ta. Các cô gái Ukraine đỏm dáng sùng kính nhìn ngắm “thanh gươm” Kazak này và nhìn những người lính Gaidamak đang cưỡi ngựa vờn múa sau lưng Petliura trên mấy con ngựa lông bờm xờm.
Những người lính Gaidamak với các bờm tóc dài màu xanh đen xỏa xuống trước trán trên chiếc đầu trọc – gọi là oseledets – làm tôi nhớ đến thời trẻ con và nhà hát Ukraine. Ở đó cũng có những người Gaidamak như thế này với mi mắt xanh lơ, hiên ngang nhảy điệu gopak[2]. “Gop, kume, ne zhurys, tudy-siudy povernys!”
Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng của mình, những nét ưu việt của mình. Nhưng những người không động lòng thương xót dân tộc mình và mất hết cảm giác về sự chừng mực luôn luôn đưa những nét ưu việt của dân tộc lên đến mức độ buồn cười, ngọt gắt như mật, làm người ta kinh tởm. Bởi vậy không có kẻ thù nào độc ác hơn đối với một dân tộc so với những kẻ yêu nước đã lên men.
Petliura cố làm hồi sinh nước Ukraine từng có thời vinh quang. Nhưng tất nhiên việc đó chẳng mang lại kết quả gì.
Sau Petlura là cái chính phủ lâm thời – gồm nhà văn suy nhược thần kinh Vinnitchrnko[3], rồi sau ông ta là các vị bộ trưởng lọm khọm nào đấy chẳng ai biết đến.
Cái chính quyền nông nổi tồn tại trong một thời gian ngắn của Chính phủ lâm thời đã bắt đầu như thế đấy tại Kiev.
Những cư dân Kiev, cũng như mọi người miền nam khác, là những người thích khôi hài đã biến cái chính phủ “tự lập” mới thành mục tiêu cho vô số những chuyện tiếu lâm chưa nghe thấy bao giờ. Dân Kiev đặc biệt vui vì cái tình huống như sau: trong những ngày đầu của chính quyền Petliura các diễn viên hài kịch thuộc phe Gaidamak đi quanh Kreshatik cầm theo những chiếc thang, leo lên thang, tháo gỡ hết những biển quảng cáo bằng tiếng Nga và thay vào đó những biển quảng cáo bằng tiếng Ukraine.
Petliura mang đến theo ông ta một thứ ngôn ngữ gọi Galitsy ngữ - khá phức tạp và pha trộn nhiều ngôn ngữ các nước láng giềng. Và tiếng Ukraine dân dã, sắc sảo, như tiếng hát, trong sáng tựa ngọc trai, như đôi môi các cô gái linh lợi, đã phải nhường chỗ trước kẻ ngụ cư mới, đi vào trong những ngôi nhà dân hẽo lánh quê hương của Shevtchenko và những thửa vườn nông thôn êm đềm. Nơi đó nó đã sống “lặng lẽ” những năm cực nhọc, nhưng vẫn giữ được sự thi vị của mình và không để cho cột sống bị bẻ gãy.
Thời Petliura mọi thứ đều có vẻ giả tạo – cả những người theo phe Gaidamak, cả ngôn ngữ, cả toàn bộ đường lối chính trị, cả những kẻ rậm râu theo chủ nghĩa xô vanh nước lớn, họ chủ yếu từ những hang ổ đời, và cả tiền bạc, - mọi thứ cho đến những toan tính hài hước của chính phủ lâm thời trước nhân dân. Nhưng về việc này câu chuyện đang còn ở phía trước.
Khi gặp những kẻ theo phái Gaidamak mọi người hớt hải nhìn nhau và tự hỏi mình – đây là người Gaidamak thật hay giả. Khi nghe những âm thanh gượng gạo của ngôn ngữ mới, một câu hỏi cũng tự nhiên xuất hiện trong đầu – đây là tiếng Ukraine hay trò đùa. Còn khi người ta thối lại tiền trong cửa hàng, bạn sẽ ngờ vực xem lại những tờ giấy bạc xam xám, trên đó xuất hiện mờ mờ ảo ảo những vệt nhợt nhạt màu vàng hoặc màu xanh, và nhận cho ra đây là tiền thật hay tiền giả. Bọn trẻ con thích chơi trò phát hiện những tờ bạc giả trong số các tờ bạc chúng có.
Những tờ bạc giả rất nhiều, mà tiền thật thì ít đến mức dân chúng đành im lặng thỏa thuận với nhau là không phân biệt sự khác nhau giữa chúng nữa. Tiền giả được lưu thông tự do như tiền thật.
Không có một xưởng in nào mà ở đó những thợ sắp chữ và thợ in không sản xuất ra những giấy bạc Petliura giả - đồng karbovanets[4] và đồng shag[5]. Shag là đồng xu có mệnh giá thấp nhất. Nó có giá trị bằng nửa cô pếch.
Nhiều công dân nhanh trí đã làm những tờ bạc giả ngay tại nhà bằng mực tàu và các loại màu nước rẻ tiền. Thậm chí họ không giấu những thứ đó khi có người lạ vào phòng.
*
Việc sản xuất ào ạt giấy bạc giả và rượu đế từ lúa mạch được thực hiện trong căn phòng của ngài Kturenda.
Sau khi ngài hùng biện này tống được tôi vào quân đội của tư lệnh, ông ta đối xử với tôi như tên đao phủ đối xử với nạn nhân của mình. Ông rất nhã nhặn lịch thiệp và thường gọi tôi sang chỗ ông.
Tôi thấy thích thú với mẫu người cuối cùng này của tầng lớp tiểu quí tộc còn sót lại cho đến cái thời đại “kinh thiên động địa” (theo cách diễn đạt của chính ngài Kturenda).
Có lần tôi đến căn phong chật chội của ông, chất đầy những chai rượu “đế” đục ngầu. Nồng nặc mùi mực màu chua chua và mùi thuốc đặc dị - giờ đây tôi quên mất tên thứ thuốc đó, - loại thuốc người ta dùng trị bệnh lậu lúc đó.
Tôi bắt gặp ngài Kturenda đang sản xuất những tờ bạc Petliura một trăm rúp. Trên các tờ bạc in hình hai cô gái có đôi mắt tròn xoe dịu dàng, mặc áo thêu, với đôi chân trần chắc nịch. Những cô gái này không hiểu tại sao lại đứng với tư thế duyên dáng của vũ nữ ba lê, trên dãy hoa văn cầu kỳ, với những búp tóc quăn mà lúc đó ngài Kturenda vẽ bằng mực tàu.
Mẹ của ngài Kturenda – một bà cụ gầy gò với nét mặt run run – ngồi sau tấm bình phong và rì rầm đọc kinh bằng tiếng Ba lan.
- Các chữ hoa văn này là chữ alpha và omega của tờ bạc Petliura, - ngài Kturenda nói với tôi bằng cái giọng lên lớp. - Thay vì vẽ hai cô gái Ukraine này anh có thể vẽ thân thể của hai người phụ nữ đẫy đà, như kiểu madam Gomoliak, mà không lo gì nguy hiểm. Nó không quan trọng. Quan trọng là làm sao chữ hoa văn này giống như trên tờ bạc của chính phủ. Lúc đó thậm chí chẳng ai để mắt đến những madam quyến rũ lòe loẹt và sẵn lòng đổi cho anh tờ bạc một trăm đồng này.
- Ông làm được bao nhiêu tờ như thế này?
- Tôi vẽ một ngày, - ngài Kturenda trả lời với vẻ quan trọng và trề môi cùng với bộ ria được tỉa tót ra, - được ba tờ. Cũng có khi được năm tờ. Tùy thuộc vào sự hưng phấn của tôi.
- Basia! – bà cụ nói từ sau tấm bình phong. – Con trai mẹ ơi. Mẹ sợ lắm.
- Không việc gì đâu, mẹ ạ. Không ai dám xâm phạm vào nhà ngài Kturenda đâu.
- Mẹ không sợ nhà tù, - bà cụ bỗng bất ngờ nói. – Mẹ sợ con, Basia à.
- Bệnh nhũn não, - ngài Kturenka nói và nháy mắt về phía bà cụ. – Con xin lỗi, mẹ à, nhưng mẹ có thể im đi được không?
- Không! – bà cụ nói. – Không, mẹ không thể. Trời sẽ trừng phạt mẹ nếu mẹ không nói với mọi người là con của tôi, - bà khóc, - con của tôi, tên Judas Iscariot kia[6]…
- Im đi nào! – Kturenda hét lên bằng cái giọng điên cuồng, bật dậy khỏi ghế và lay mạnh hết cỡ tấm bình phong mà bà cụ ngồi ở đằng sau. Tấm bình phong lung lay, chân khua lạch cạch trên sàn, và từ tấm bình phong bay ra đám bụi vàng.
- Im đi, mụ dở hơi, nếu không tôi lấy giẻ tẩm dầu hỏa nhét vào mồm bây giờ.
Bà cụ khóc và khụt khịt mũi.
- Thế nghĩa là thế nào? – Tôi hỏi ngài Ktrenda.
- Đó là việc riêng của tôi, - Kturenda trả lời với vẻ khiêu khích. Khuôn mặt méo xệch của ông ta hằn lên những đường vân đỏ, và có cảm giác như từ những đường vân này máu sắp bắn ra ngay. – Tôi khuyên anh đừng chõ mũi vào công việc của tôi, nếu anh không muốn ngủ trong nấm mồ chung với bọn bônshevich.
- Đồ đê tiện! – tôi bình tĩnh nói. – Ông là tên đê tiện nhỏ nhen, thậm chí không đáng giá bằng tờ một trăm karbovanets này.
- Ném mày xuống dưới băng! – ngài Kturebda bỗng hét lên điên loạn và giậm chân thình thịch. – Ngài Petliura sẽ ném những thằng như mày xuống sông Dniepr... xuống dưới lớp băng.
Tôi đã kể cho bà Amalia nghe chuyện này. Bà trả lời rằng, theo phán đoán của bà, ngài Kturenda làm mật thám cho mọi chính quyền chia năm xẻ bảy ở Ukraine lúc đó, - với Hội đồng trung ương Ukraine, với bọn Đức, với viên tư lệnh, và bây giờ là với Petliura.
Bà Amalia tin rằng ngài Kturenda sẽ bắt đầu trả thù tôi và nhất định sẽ tố giác tôi. Bởi vậy, như một phụ nữ chu đáo và có óc thực tế, ngay hôm đó bà bố trí theo dõi ngài Kturenda.
Nhưng đến tối thì mọi biện pháp tinh vi của bà Amalia dùng để làm vô hại ngài Kturenda đều không còn cần đến nữa. Ngài Kturenda đã chết trước mắt tôi và bà Amalia, và cái chết của ngài cũng ngu ngốc không thể nào chịu được, giống như cả cuộc đời đê tiện của ngài.
Vào lúc chập tối có mấy tiếng súng lục nổ ngoài phố. Trong những trường hợp như thế tôi thường ra ngoài ban công nghe ngóng xem việc gì đã xảy ra.
Tôi ra ban công, và nhìn thấy có hai người mặc thường phục chạy trên quảng trường vắng cạnh tu viện Vladimir về phía nhà chúng tôi, đuổi theo sau họ là mấy sĩ quan và lính Petliura, với vẻ rõ ràng là không dám đuổi kịp hai người kia. Mấy viên sĩ quan vừa chạy vừa bắn vào hai người chạy trốn và hô như điên dại: “Đứng lại!”
Đúng lúc đó tôi nhìn thấy ngài Kturenda. Từ trong phòng mình ngài nhảy vọt ra đầu hồi, chạy đến cạnh cánh cổng lớn mở ra phố, và rút từ trong ổ khóa ra một chiếc chìa khóa to đùng, trông giống như khẩu súng cổ từ một thành phố thời trung thế kỷ.
Cầm chiếc chìa khóa trong tay, ngài Kturenda nấp sau cánh cổng. Khi hai người mặc thường phục chạy qua bên cạnh ngài Kturenka xô bật cánh cổng ra, từ trong cổng ngài chìa cánh tay cầm chiếc chìa khóa ra ngoài (ngài cầm chiếc chìa khóa như cầm một khẩu súng lục, và từ đằng xa nhìn đến tưởng như ngài Kturenda đang ngắm bắn từ một khẩu súng lục cổ) và ngài hét lên bằng cái giọng the thé:
- Đứng lại! Quân súc sinh bôlshevich! Tao giết chết!
Ngài Kturenda muốn giúp những người lính Petliura và có lẽ đã kìm chân hai người chạy trốn được mấy giây. Tất nhiên những giây phút này quyết định số phận của họ.
Từ trên ban công tôi nhìn thấy rõ tất cả những gì xảy ra sau đó. Người đàn ông chạy phía sau nâng khẩu súng lục lên, không ngắm vào mục tiêu, và thậm chí không nhìn Kturenda, vừa chạy vừa bắn về phía ông ta. Ngài Kturenda kêu oái lên một tiếng và hộc ra máu, ngài thở khò khè và chết với chiếc chìa khóa cầm trong tay. Máu ngài chảy đầm đìa trên chiếc cổ áo selluloid màu hồng, và trong đôi mắt vẫn mở to còn đọng lại biểu hiện của nỗi khiếp đảm và hận thù.
Chiếc xe ngựa “Cấp cứu” có mui đến sau đó một giờ và đưa ngài Kturenda đến nhà xác.
Bà mẹ già ngủ thiếp khi ông con trai chết và đến đêm bà mới biết về cái chết này.
Sau đó mấy ngày người ta đưa cụ đến nhà dưỡng lão Sulimovsky. Tôi thường gặp những bà sống bằng tiền từ thiện ở Sulimovsky. Họ đi dạo thành từng đôi, như những bà giáo, mặc những chiếc váy tối màu giống nhau bằng vải tualdenor[7]. Cuộc dạo chơi của họ làm ta nhớ đến đoàn diễu hành trọng thể của những con bọ cánh cứng.
Tôi đã kể lại một việc không có gì đáng nói này về ngài Kturenka chỉ vì ông ấy tương hợp với bản chất tồn tại của Chính phủ lâm thời. Mọi thứ đều nhỏ nhen, lố bịch và làm người ta nhớ đến vở hài kịch dở, dàn dựng cẩu thả, nhưng có đôi chỗ bi thương.
Có lần ở khắp thành phố Kiev người ta dán những áp phích to đùng. Chúng thông báo cho dân chúng biết là tại rạp chiếu bóng “Are” Chính phủ lâm thời sẽ phúc trình trước nhân dân.
[1] “slava”… “ura” – có nghĩa là “vinh quang thay”... “hoan hô” (ND).
[2] “gopak” – điệu nhảy dân gian Ukraine (ND).
[3] Vinnitchenko Vladimir Kirillovich (1880-1951) – nhà văn Ukraine, một trong những nhà lãnh đạo cuộc phản cách mạng dân tộc ở Ukraine, cầm đầu chính phủ lâm thời Ukraine (1918-1919), sống lưu vong.
[4] Karbovanets – đơn vị tiền tệ của Ukraine thời kỳ Petliurs 1918- 1920 (ND).
[5] Shag – đồng tiền xu của Ukraine thời kỳ 1918—1919 (ND).
[6] Judas Iscariot – trong Tân Di huấn đó là một trong số các tông đồ đã bán người thầy của mình (chúa Kitô) để lấy 30 đồng bạc trắng.
[7] …vải tualdenor. – Tual de nor – vải sợi bông dày dệt thô từ sợi màu và sợi không nhuộm màu.
TIA TỬ NGOẠI (Tiếp theo) - Paustovsky K.
chauphanbach | 06 January, 2012 21:47
TIA TỬ NGOẠI
(Tiếp theo)
Cả thành phố cố len vào dự buổi phúc trình này, vì dự đoán trước một trò vui bất ngờ. Và nó đã diễn ra đúng như thế.
Gian phòng dài và hẹp của rạp chiếu bóng chìm trong bóng tối bí hiểm. Người ta không bật đèn. Đám đông ồn ào vui vẻ trong bóng tối.
Sau đó bên trong bức tường người ta gõ một hồi thanh la vang động, dãy đèn sân khấu bùng lên ngọn lửa đủ màu sắc, và trước mắt khán giả, trên bức phông hậu của nhà hát, với những màu sắc khá lòe loẹt in hình “sông Dniepr tuyệt vời trong thời tiết êm ả”[1], xuất hiện người đàn ông đứng tuổi, nhưng cân đối, mặc bộ com lê đen, với bộ râu tao nhã – thủ tướng Vinnitchenko.
Với thái độ không hài lòng và rõ ràng là lúng ta lúng túng, lúc nào cũng đưa tay sửa lại chiếc cà vạt lòe loẹt, ông ta đọc bài phát biểu ngắn gọn và khô khan về tình hình thế giới của Ukraine. Cử tọa vỗ tay hoan hô ông.
Sau đó bước ra sân khấu là một cô gái gầy đét chưa từng thấy và mặt đầy son phấn, mặc váy đen, hai tay chắp trước ngực với vẻ đầy thất vọng, cô bắt đầu ngâm bài thơ của nữ sĩ Galina với vẻ rụt rè trong tiếng đệm trầm tư của chiếc đàn dương cầm:
Rừng cây xanh non bị chặt phá…
Người ta cũng vỗ tay…
Mấy bài phát biểu của các bộ trưởng được đan xen giữa các tiết mục biểu diễn. Sau bộ trưởng giao thông các cô gái và chàng trai biễu diễn điệu nhảy gopak.
Khán giả đang thật sự hào hứng, nhưng căng thẳng lặng im, khi nặng nhọc bước lên sân khấu là người đàn ông đứng tuổi - “bộ trưởng cân đối quốc gia”, hay nói cách khác là bộ trưởng tài chính.
Vị bộ trưởng này có vẻ ngoài bù xù và hầm hố. Ông lộ rõ sự bực mình và thở phì phì khá to. Cái đầu tròn húi kiểu đờ mi ca rê của ông óng ánh mồ hôi. Hai bộ ria mép màu xám kiểu Kazak phủ đến tận cằm.
Vị bộ trưởng mặc một chiếc quần rộng mầu xám kẻ sọc, một chiếc áo vét tuýt xo cũng rộng thùng thình như thế với mấy chiếc túi căng phồng và chiếc áo sơ mi thêu với cổ áo đính ru băng có ngù đỏ.
Ông không định đọc bản báo cáo nào cả. Ông bước đến cạnh dãy đèn quanh sân khấu và bắt đầu lắng tai nghe tiếng rì rầm trong phòng khán giả. Để làm việc này vị bộ trưởng đưa bàn tay khum khum thành cái phễu lên bên vành tai tóc che bù xù của mình. Tiếng cười vang lên.
Vị bộ trưởng hài lòng mỉm cười, gật đầu tán thưởng những ý nghĩ của mình rồi hỏi?
- Moskali à?[2]
Thật ra ngồi trong gian phòng hầu như toàn người Nga. Các khán giả không hiểu ra cứ hồn nhiên trả lời rằng vâng, trong phòng phần lớn là người Moskva.
- Thế-ế đấ-ấy! – vị bộ trưởng giận dữ nói và xì mũi vào chiếc khăn ca rô to. – Thậm chí rất dễ hiểu. Dù không dễ chịu chút nào.
Gian phòng lặng đi, tiên liệu có điều gì đó bất ổn.
- Thật quỉ quái, - vị bộ trưởng bỗng hét to bằng tiếng Ukraine và mặt đỏ dừ như củ cải đường – các vị từ Moskva đến đây làm quái gì. Cứ như ruồi đi tìm mật. Các vị nhìn thấy gì ở đó rồi chứ? Cứ để cho sấm sét đánh tan tác các vị đi! Ở chỗ các vị, ở Moskva, chẳng còn gì để ăn, thậm chí chẳng còn gì để…
Gian phòng sôi sục phẩn nộ. Tiếng huýt gió vang lên. Một người đàn ông nhỏ con trèo lên sân khấu và thận trọng tóm khuỷu tay viên “bộ trưởng cân đối”, định kéo ông ta xuống. Nhưng ông già tức sôi lên và hất mạnh người đàn ông nhỏ con ra làm ông suýt ngã. Ông già đang hăng máu. Ông không thể dừng lại được.
- Sao các vị im lặng thế? – ông ta hỏi giọng ngọt xớt. – Hả? Các vị không hiểu chứ gì. Vậy thì tôi sẽ trả lời thay quí vị. Ở Ukraine có bánh mì, có đường, có mỡ, có lúa mạch, có thu nhập. Còn ở Moskva có mà ăn củ đấm, mút sáp nến thờ. Thế đấy!
Đã có hai người đàn ông nhẹ nhàng cầm vạt chiếc áo vét đũi kéo vị bộ trưởng xuống khỏi sàn, nhưng ông ta hằm hằm chống trả và hét to:
- Đồ nhóc con! Đồ quỷ hút máu! Xéo về Moskva của chúng mày đi! Ở đó chúng mày có cái chính phủ chúng mày! Xéo ngay!
Vinnitchenko xuất hiện sau mấy tấm cánh gà. Ông bực tức phẩy tay, và cuối cùng người ta lôi ông già mặt đỏ dừ vì phẫn uất ra sau mấy tấm cánh gà. Và ngay lúc đó, để xoa dịu cảm giác khó chịu dàn đồng ca của các chàng trai đội mũ lông gấp nếp khéo léo bước ra sân khấu, tiếng đàn bandura vang lên, và các chàng trai vừa nhảy ngồi vừa hát:
Ôi, người quá cố nào nằm kia,
Chẳng phải hầu tước, chẳng phải điền chủ, chẳng phải tướng tá –
Mà là vị hôn phu của mụ nhà quê già hèn mọn!
Đến đây buổi phúc trình của Chính phủ lâm thời trước nhân dân đã kết thúc. Với những tiếng hô: “Xéo về Moskva của chúng mày đi! Ở đó chúng mày có cái chính phủ chúng mày!” – thính giả từ trong rạp chiếu bóng “Are” đổ ra phố.
*
Chính quyền của Chính phủ lâm thời Ukraine trông thật quê mùa.
Kiev nổi danh một thời đã biến thành Shpola[3] phóng đại hoặc Mirgorod[4] với sự tồn tại của nhà nước và những người Dovgotchkhun lưu trú trong đó.
Cả thành phố được xếp đặt theo kiểu nước Ukraine xưa kia, cho đến cả hiệu bánh với tấm biển hiệu bằng tiếng Ukraine “Đây là bánh của Taras từ Poltava”. Ông Taras ria dài trông thật oai vệ và chiếc áo sơ mi trắng như tuyết trên người ông ta căng phồng lên và đỏ rực dòng chữ thêu sáng chói đến nổi mọi người đều đánh liều mua bánh và mật của nhân vật ôpera này.
Thật dễ hiểu khi vở diễn với những nhân vật thực từ những người thuộc phe “Gaidamak” có cái gì đó không thật hoặc như trò đùa.
Không thể nào hình dung được việc gì đang xảy ra. Đây là một thời kỳ đầy biến động, căng thẳng, đầy ắp những biến cố. Trong những ngày đầu tiên khi xuất hiện một chính quyền mới đã nảy sinh những dấu hiệu rõ ràng đầy đe dọa về sự sụp đổ nhanh chóng không thương tiếc của nó.
Mỗi chính quyền đều vội vã công bố thật nhiều những bản tuyên ngôn và sắc lệnh, với hy vọng dù ít ỏi rằng những tuyên ngôn này đi vào cuộc sống và nằm lại ở đó.
Từ sự cai trị của Petliura, cũng như sự cai trị của viên tư lệnh, chỉ còn lại cái cảm giác về sự thiếu tin tưởng hoàn toàn vào ngày mai và sự mờ ảo của tư tưởng.
Petliura hy vọng hơn ai hết vào quân Pháp đang chiếm đóng Odessa lúc đó. Từ phía bắc quân đội xô viết là mối đe dọa hiểm nghèo.
Quân Petliura truyền nhau tin đồn là dường như quân Pháp đã đến trợ giúp Kiev, dường như họ đã đến Vinnishtsa, đến Fastov và những lính lê dương can đảm của Pháp trong bộ quân phục đỏ và áo giáp ngày mai có thể sẽ xuất hiện ở Boiark. Viên lãnh sự Pháp Enno – bạn chí thân của Petliura đã hứa với ông ta điều đó.
Báo chí hớt ha hớt hải vì những tin đồn trái ngược nhau, sẵn sàng đăng tất cả những tin vớ vẩn này, trong khi mọi người đều biết rằng quân Pháp áng binh bất động ở Odessa, trong khu chiếm đóng của Pháp và rằng các “vùng ảnh hưởng” trong thành phố (thuộc Pháp, thuộc Hy lạp, thuộc Ukraine) bị ngăn cách nhau bởi những chiếc ghế thành Viên khập khểnh.
Những tin đồn thời kỳ Petliura có tính tự phát, hầu như là một hiện tượng quá phổ biến, giống như bệnh dịch toàn cầu. Đó là một căn bệnh truyền nhiễm.
Những tin đồn đó không có tác động trực tiếp – để thông báo những sự kiện người ta tưởng tượng ra. Những tin đồn mang một bản chất mới, dường như là một thực thể khác. Chúng biến thành công cụ để tự làm người ta yên tâm, thành một liều thuốc an thần mạnh nhất. Mọi người tìm thấy niềm hy vọng vào tương lai chỉ qua các tin đồn.
Thậm chí nhìn bề ngoài những người dân Kiev trở nên giống với các con nghiện. Khi nghe mỗi tin đồn cặp mắt mờ đục của họ thường sáng quắc lên, mất đi vẻ uể oải thường ngày, câu nói đang lắp ba lắp bắp bỗng trở nên sôi nổi và thậm chí rất sắc sảo.
Có những tin đồn chỉ thoảng qua và những tin đồn có tác động lâu dài. Chúng giam hãm dân chúng hai-ba ngày trong tình trạng hưng phấn.
Thậm chí những kẻ đa nghi nhất cũng tin mọi thứ đến mức cho rằng Ukraine sẽ tuyên bố trở thành một tỉnh của nước Pháp và để công báo trọng thể văn kiện nhà nước này đích thân tổng thống Poincaré[5] sẽ đến Kiev, hoặc về việc nữ diễn viên điện ảnh Vera Kholodnaia đã thành lập quân đội riêng và, như Jeanne d’Ark[6], bà sẽ cưỡi trên lưng con ngựa bạch dẫn đầu đội quân liều lĩnh của mình vào thành phố Priluky, nơi bà sẽ tuyên bố là nữ hoàng của Ukraine.
Một thời gian tôi đã ghi lại tất cả những tin đồn này, nhưng sau đó tôi vứt hết. Làm cái việc này thì hoặc là đầu óc sẽ đau khủng khiếp hoặc cơn điên thầm lặng sẽ đến. Lúc đó chỉ muốn tiêu diệt hết tất cả, bắt đầu từ Poincaré và tổng thống Wilson[7] và cuối cung là Makhno và tư lệnh Zelenny nổi tiếng đang giữ dinh thự của mình ở làng Tripole cạnh Kiev.
Rất tiếc là những bản ghi chép này tôi đã hủy hết. Thực chất đó là tác phẩm quái đãn của sự lừa dối và sự hoang tưởng vô độ của những con người hoang mang bất lực.
Để tỉnh tâm lại đôi chút, tôi đã đọc lại những quyển sách trong sáng, được sưởi ấm bằng ánh sáng bất diệt mà tôi yêu thích: “Nước mùa xuân” của Turgenev, “Ngôi sao xanh” của Boris Zaitsev, “Tristan và Izolda”, “Manon Lesko”[8]. Những quyển sách này rực sáng trong màn tối của những đêm Kiev ảm đạm, như những ngôi sao không bao giờ tắt.
Tôi sống một mình. Mẹ và chị vẫn bặt vô âm tín ở cách xa Kiev. Tôi không biết tin tức gì về hai người.
Tôi quyết định đến mùa xuân sẽ đi bộ về Kopan, mặc dù người ta đã cảnh báo với tôi rằng trên đường từ đây đến đó phải qua nước cộng hòa “Dymer” ngang ngược và tôi không thể sống được khi đi qua nước cộng hòa này. Nhưng lúc đó có những sự kiện mới làm cho bầu không khí Kiev nóng bỏng, và chẳng thể nào nghĩ đến chuyến đi bộ về Kopan.
Tôi một mình với những quyển sách. Tôi đã định viết cái gì đấy, nhưng mọi thứ không ra hình thù gì cả và gợi lại một cơn hoang tưởng.
Chia sẻ sự cô đơn với tôi chỉ có đêm tối, khi sự vắng lặng bao trùm cả khu phố và trên ngôi nhà của chúng tôi, và chỉ có lính tuần tra hãn hữu đi qua, những đám mây và những vì sao là không ngủ.
Tiếng bước chân của lính tuần tra vang đến từ nơi xa xa. Mỗi lần như vậy tôi đều tắt ngọn đèn dầu nhằm không để họ chú ý đến ngôi nhà chúng tôi. Thỉnh thoảng đêm đêm tôi lại nghe thấy tiếng khóc của bà Amalia, và tôi nghĩ sự cô đơn đối với bà còn nặng nề hơn tôi bội phần.
Mỗi lần sau những giọt nước mắt ban đêm là mấy ngày liền bà nói chuyện với tôi với vẻ kênh kiệu và thậm chí thù hằn, nhưng sau đó bà lại cười bẽn lẽn và hối lỗi, rồi thậm chí còn bắt đầu chăm sóc tôi tận tâm, như đã chăm sóc tất cả những người thuê phòng của bà.
*
Ở Đức đã bắt đầu cuộc cách mạng. Những đơn vị Đức đóng ở Kiev đã chọn lựa sôi nổi và kỹ lưỡng Hội đồng ủy viên binh sĩ của họ và bắt đầu chuẩn bị trở về tổ quốc. Petliura quyết định lợi dụng điểm yếu của quân Đức và giải giáp họ. Quân Đức biết được việc này.
Buổi sáng ngày dự định giải giáp quân Đức tôi tỉnh giấc vì có cảm giác như những bức tường ngôi nhà chúng tôi lay động nhịp nhàng. Tiếng trống vang rền.
Tôi bước ra ban công. Bà Amalia đã đứng ở đó. Dọc phố Fundukleevsky mấy trung đoàn lính Đức đang lặng lẽ bước những bước đi nặng nhọc. Tiếng vó ngựa làm các ô cửa kính rung lên. Tiếng trống như điều cảnh báo. Sau bộ binh một đơn vị pháo binh cũng đi qua với vẻ cau có, móng ngựa khua lóc cóc đều đều, rồi sau họ là hàng chục khẩu pháo kéo ầm ầm trên mặt đường lát đá.
Không nói một tiếng nào, chỉ có tiếng trống gõ nhịp, quân Đức đi một vòng quanh thành phố rồi trở về các doanh trại.
Ngay lúc đó Petliura thay đổi bản mật lệnh của mình về giải giáp quân Đức.
Không bao lâu sau cuộc diễu hành im lặng của bọn Đức, từ bờ trái sông Dniepr bắt đầu vang lên tiếng đạn đại bác xa xa. Quân Đức nhanh chóng thanh trừng Kiev. Tiếng đại bác mỗi lúc một rền vang hơn và thành phố được biết tin rằng từ phía Nezhin các trung đoàn xô viết đang nhanh chóng xông vào các trận đánh.
Khi trận đánh bắt đầu ở ngoại vi Kiev, tại vùng Brovar và Darhits, và mọi người thấy rõ là cơ nghiệp của Petliura đã sụp đổ, trong thành phố đã công bố chỉ thị của trưởng ban quân quản chính quyền Petliura.
Bản chỉ thị thông báo rằng trong đêm rạng sáng ngày mai bộ chỉ huy quân đội Petliura sẽ phóng các tia tử ngoại gây chết người để chống lại quân bônshevich, súng phóng tia tử ngoại được chính quyền quân sự Pháp cung cấp cho Petliura qua chương trình trợ giúp của “người bạn của Ukraine tự do”, lãnh sự Pháp Erno.
Do việc phóng tia tử ngoại nhân dân thành phố được lệnh phòng tránh những tổn thất bất ngờ trong đêm rạng sáng ngày mai bằng cách xuống tầng hầm và không ra khỏi hầm cho đến sáng.
Dân Kiev đã quen xuống tầng hầm khi họ ẩn nấp trong thời gian xảy ra các cuộc đảo chính. Ngoài các tầng hầm, những nhà bếp cũng trở thành nơi khá an toàn và là dinh lũy đặc biệt cho những buổi uống trà và tán chuyện. Những nhà bếp này thường bố trí sâu bên trong căn hộ mà đạn ít khi lạc vào. Một cảm giác an tâm nào đấy có thể nhận được qua mùi thức ăn đạm bạc còn lưu lại trong nhà bếp. Tại đó đôi khi nước vẫn còn chảy ra từ các vòi nước. Vào một giờ nào đấy có thể lấy được cả ấm nước đầy, đun sôi và pha ấm trà đặc từ những lá việt quất khô.
Ai đã từng uống thứ nước trà này vào buổi tối đều công nhận rằng thời đó nó là thứ nước trợ lực duy nhất của chúng ta, một loại tiên dược đặc biệt và thuốc vạn năng chữa trị mọi tai họa và buồn đau.
Tôi có cảm tưởng rằng đất nước bị bao phủ bởi những màn bụi vũ trụ dày đặc. Không thể nào tin được rằng dưới tiếng gào rít của những cơn gió trên các mái nhà dột nát, trong những đêm ngủ say mê mệt trong mùi khói dầu và nỗi thất vọng này, lúc nào đó lại len lỏi vào chút ánh sáng lạnh lẽo, nó len lỏi vào chỉ nhằm làm sao ta lại có thể thấy được những con phố vắng vẻ và những con người chạy trên phố chẳng biết về đâu, mặt xanh xao vì rét buốt và đói ăn, quấn những tấm vải thô, với những khẩu súng trường đủ loại nhãn mác và đạn dược.
Mấy ngón tay ghì vào cò súng thép. Bao nhiêu hơi ấm của cơ thể đều bay ra hết không còn chút nào dưới bộ quân phục mỏng manh và những chiếc áo sơ mi vải thô.
Vào đêm “tia tử ngoại” cả thành phố im lìm như chết. Thậm chí tiếng đại bác cũng bặt tăm, và tiếng động duy nhất còn nghe thấy là tiếng bánh xe chạy xa xa. Căn cứ vào tiếng động đặc biệt này những cư dân Kiev có kinh nghiệm hiểu được rằng những đoàn xe quân sự đang đi xa dần thành phố về một hướng nào đó.
Sự việc xảy ra đúng như vậy. Sáng ra thành phố đã được giải phóng khỏi quân Petliura, sạch sành sanh đến hạt bụi cuối cùng. Các tin đồn về những tia tử ngoại được tung ra chỉ để cho đêm tháo chạy không bị quấy nhiễu.
Kiev, như nó vẫn thường gặp nhiều lần, lại không có chính quyền. Nhưng các đầu lĩnh và kẻ “du thủ du thực” ngoại ô không kịp chiếm thành phố. Vào giữa trưa, trên cầu Tsepny, trong màn hơi nước từ mõm ngựa, trong tiếng động của bánh xe, trong những tiếng hô, những bài hát và trong ánh lấp lánh vui vẻ của những chiếc đàn acmonica, các trung đoàn Bogunsky và Tarashansky của Hồng quân tiến vào thành phố, và toàn bộ cuộc sống trong thành phố lại biến động tận gốc.
Đã xảy ra, như những công nhân nhà hát thường nói, sự “chuyển cảnh hoàn toàn”, và không ai có thể đoán trước được sự chuyển đổi đó sẽ hứa hẹn điều gì với những người dân đói ăn này. Chỉ có thời gian mới cho thấy được điều đó.
[1] “Sông Dniepr tuyệt vời trong thời tiết êm ả…” – Trích từ truyện ngắn “Sự báo thù khủng khiếp” của N.V. Gogol.
[2] Moskali – tiếng Uraine, có nghĩa là người Moskva.
[3] Shpola – một thành phố ở vùng Tcherkas của Ukraine, trung tâm hành chính của khu Spoliansky (ND)
[4] Mirgorod – tên một thành phố ở vùng Poltava của Ukraine (ND).
[5] Poincaré Raymond (1860-1934) – nhà hoạt động chính trị và nhà nước Pháp.
[6] Jeanne d’Ark (khoảng 1412-1431) – nữ anh hùng dân tộc Pháp, lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Pháp trong thời kỳ cuộc chiến tranh Trăm năm (1337-1453)
[7] Wilson Thomas Woodrow (1856-1924) – nhà hoạt động nhà nước, từ 1912 -1921 là tổng thống Hoa Kỳ.
[8] “Manon Lesko” – tiểu thuyết “Câu chuyện của đôi bạn Des Grieux và Manon Lescaut” của Antoine Francois Prevost (1697-1763).
“VỊ TƯ LỆNH KHỐ RÁCH ÁO ÔM CỦA CHÚNG TÔI” - Paustovsky K.
chauphanbach | 02 January, 2012 21:16
Những bài đã đăng thuộc CHUYỆN ĐỜI - Tập 3. Bắt đầu một thế kỷ chưa từng có:
>> 1. Xoáy nước
>> 2. Những ngọn đuốc xanh
>> 3. Hiệu cà phê của các nhà báo
>> 4. Gian phòng họp có giếng phun
>> 5. Khu vực tĩnh lặng
>> 6. Cuộc bạo động
>> 7. Tư liệu về lịch sử các biệt thự ở Moskva
>> 8. Vài lời giải thích
>> 9. Toa tàu có lò sưởi trên tuyến đường sắt Riga-Orlovsky
>> 10. Vùng đệm
>> 11. "Vị tư lệnh khố rách áo ôm của chúng tôi"
“VỊ TƯ LỆNH KHỐ RÁCH ÁO ÔM
CỦA CHÚNG TÔI”
Đến cuối thu tôi vẫn sống ở Kopan, sau đó đến Kiev để tìm việc làm và đưa mẹ và chị về thành phố.
Công việc không ổn định được ngay, Cuối cùng tôi bắt đầu làm phóng viên cho tờ báo “Tư duy Kiev”[1], một tờ báo duy nhất ít nhiều có qui cũ. Từng có lúc tờ báo này được sống những ngày chói lọi nhất. Cộng tác với tờ báo có Korolenko, Lunarsky và nhiều nhân vật tiến bộ khác. Đối với bọn Đức, chủ nhiệm tờ báo “Tư duy Kiev” cũng cố gắng giữ cho mình tính độc lập, nhưng không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Chúng thường xuyên bắt nộp phạt và mấy lần dọa đóng cửa tờ báo.
Tôi thuê mấy căn phòng nhỏ trong một tòa nhà lớn cạnh nhà thờ Vladimir, của một phụ nữ quá thì đa cảm người Đức, tên là Amalia Knoster. Nhưng việc đưa mẹ và chị Galia về không thực hiện được – thành phố bất ngờ bị những người thuộc băng đảng Petliura phong tỏa. Chúng bắt đầu vây chặt thành phố.
Mấy ô cửa sổ phòng tôi quay ra phía vườn Bách thảo. Buổi sáng tôi bị đánh thức bởi tiếng súng đại bác nổ liên hồi khắp chung quanh Kiev.
Tôi dậy, đốt lò sưởi, nhìn ra vườn Bách thảo, tại đó sương muối từ trên các tán lá rơi xuống hết lớp này đến lớp khác do tiếng nổ đạn đại bác, tôi vừa đọc vừa suy nghĩ. Buổi sáng mùa đông sương mù dày đặc, tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi và tiếng đại bác ì ầm – tất cả tạo ra một bầu không khí yên tĩnh lạ kỳ, mặc dù hoàn toàn không bình thường và bất ổn.
Đầu thấy sảng khoái, tôi rửa mặt bằng nước lã từ vòi nước. Mùi cà phê bên phòng người đàn bà lỡ thì Knoster chẳng biết vì sao lại tạo ra cảm giác về ngày trước lễ Giáng sinh.
Thời kỳ đó tôi bắt đầu viết rất nhiều. Thật lạ lùng là tình trạng phong tỏa lại có ích cho tôi. Thành phố bị vây chặt chung quanh, và những ý tưởng của tôi cũng bị dồn nén lại.
Cái nhận thức về việc Kiev bị tách rời khỏi thế giới, về việc cuộc phong tỏa sẽ còn kéo dài, về việc giờ đây chẳng còn gì khác để làm ngoài sự chờ đợi, - cái nhận thức đó tạo ra cho cuộc sống cảm giác nhẹ nhàng và vô tư lự.
Thậm chí người đàn bà lỡ thì Amalia Knoster cũng đã quen với tiếng súng đại bác, coi như nó nằm trong thời gian biểu bất di bất dịch hàng ngày. Khi thỉnh thoảng tiếng súng lặng đi bà lại bồn chồn. Cái không khí yên tĩnh báo trước những sự bất ngờ, và tỏ ra nguy hiểm.
Nhưng không bao lâu sau tiếng nổ xa xa lại bắt đầu vây quanh thành phố, và mọi người thấy an tâm. Lại có thể đọc sách, làm việc, suy tư, lại tiếp diễn bình thường những lo toan, việc làm, đói ăn (nói đúng hơn là không đủ ăn) và giấc ngủ không sâu.
Tôi là khách thuê trọ duy nhất của bà Amalia. Bà chỉ dành mấy căn phòng cho những người đàn ông độc thân thuê, nhưng không có mưu đồ xảo quyệt nào. Chỉ đơn giản vì bà không thể chịu đựng được những người phụ nữ. Bà chỉ lẳng lặng phải lòng lần lượt những người đàn ông thuê phòng, nhưng không hề thể hiện sự phải lòng đó bằng bất cứ cách nào, ngoài những chăm sóc nho nhỏ và mặt đỏ dừ lên một cách bất ngờ. Nó làm cho da mặt vàng vỏ của bà ửng hồng lên khi nghe những lời nói ám chỉ đến chuyện tình yêu và hôn nhân.
Bà thích thú ca ngợi tất cả những người đàn ông thuê phòng trước đây và thực tâm tự hào về việc tất cả những người đó dường như sau khi đính ước đã cưới phải những người đàn bà cay nghiệt và tham lam, rồi sau đó phải bỏ nhà ra đi.
Trước đây bà Amalia từng làm gia sư cho những nhà giàu ở Kiev, dành dụm được nhiều tiền và mua căn hộ. Bà sống nhờ tiền cho thuê các căn phòng và may quần áo.
Nhưng mặc dù có cái nghề dạy tư trước đây, bà Amalia không câu nệ kiểu cách. Nói chung bà là một phụ nữ cô đơn, nhân hậu và buồn tẻ.
Bà Amalia làm tôi ngạc nhiên ở chỗ mặc dù là người Đức nhưng bà có thái độ thù địch với bọn Đức đã chiếm đóng Kiev và coi chúng là lũ thô tục.
Bà đối xử với tôi bằng một thái độ hơi e dè, có lẽ vì tối nào tôi cũng đọc và viết. Bà xem tôi là một nhà văn và thậm chí đôi lúc đã nói chuyện với tôi về lĩnh vực văn học và về nhà văn Shpilgagen mà bà yêu thích. Bà tự tay dọn phòng cho tôi. Sau đó tôi tìm thấy trong những quyển sách khi thì mấy bông hoa khô, khi thì một tấm bưu thiếp in hình bông hoa thược dược rực rỡ. Nhưng sự chăm sóc này của bà Amalia không gây phiền phức gì cho tôi, và tình bạn của chúng tôi không lần nào bị trục trặc.
Chỉ có vào dịp những ngày lễ lớn mới có mấy người bạn gái đến thăm bà – đó là những phụ nữ Đức quê ở Bonny và những phụ nữ Thụy sĩ mặc áo choàng có thắt lưng bằng vải ta tăng, quần chẽn và xách túi lưới.
Amalia lôi ra hàng chồng những chiếc đệm tách với hình thêu mèo, chó cảnh, nụ hoa păng xê và hoa lưu ly, bày hết những tài sản này lên bàn và dọn ra các tách cà phê Basel hão hạng (nó có xuất xứ từ Bazel).
Các bà phụ nữ Bonny ăn uống rất thanh nhã và chuyện trò rôm rã, thường thốt lên những tiếng ngạc nhiên và khiếp sợ.
Trong nhóm bạn bè chọn lọc này chỉ có một người đàn ông được tham dự vào – đó là viên quân quản ngôi nhà, ông nguyên là nhân viên kế toán tuyến đường Tây – Nam – ngài Sebastian Kturenda-Tsikavsky.
Ông ta luôn luôn là một người đàn ông hay gây chuyện, tóc húi cua với hai ria mép được xén tỉa của kẻ sợ vợ và cặp mắt kiêu ngạo ti hí như những chiếc khuy áo. Ông mặc chiếc áo vét xanh ngắn cũn cỡn kẻ sọc màu nâu xanh, với một mụn vải khâu chỗ túi ngực bằng lụa tím, thay thế một cách tượng trưng cho chiếc khăn mùi soa đỏm dáng đút ở túi. Ngoài ra ông đeo một chiếc cổ áo màu hồng bằng nhựa seluloit và một chiếc nơ cổ. Những chiếc cổ áo seluloit không lúc nào sạch này thời đó người ta gọi là “niềm hạnh phúc của người đàn ông độc thân”. Không được giặt những chiếc cổ áo đó. Những vết bẩn trên cổ áo thường được lau bằng cục tẩy thông thường của học sinh.
Từ phía ngài Krurenda bốc ra mùi hỗn tạp của xà phòng cạo râu, khói thuốc lá khét lẹt và mùi rượu đế. Thứ rượu đế đùng đục này ông nấu từ gạo tiểu mạch trong căn phòng tranh tối tranh sáng của ông.
Kturenda là một người đàn ông độc thân và ông sống với bà mẹ - một cụ già nhút nhát. Bà sợ ông con trai, đặc biệt là sợ sự uyên bác của ông ta. Ngài Kturenda thích làm cho những người sống trong ngôi nhà này sửng sốt vì sự uyên bác của mình và ngài thể hiện nó hơi cầu kỳ.
- Tôi xin nói với các bác, - ông nói với vẻ bí mật, - rằng quyển sách “Giới và tính cách” của Veininger có trình bày ở mức độ giới hạn vấn đề tình dục ở cái mặt tốt nhất của nó.
Trong những cuộc trò chuyện của mình ở chỗ bà Amalia ngài Kturenda không đề cập đến những vấn đề tình dục, nhưng ông sợ các bà gia sư bởi những lập luận về nguồn gốc cái chính quyền của “ngài tư lệnh quí tộc gốc Skoropadsky”.
Trong đời tôi đã nhìn thấy nhiều người ngốc, nhưng vẫn chưa gặp một người ngốc bất trị như thế này bao giờ.
Cuộc sống ở Kiev lúc đó làm ta nhớ đến bữa tiệc thời thổ tả. Mở ra nhiều quán cà phê và hiệu ăn, nơi những món đồ ngọt và thức ăn chỉ đủ cho không quá ba mươi thực khách. Nhưng bên ngoài mọi thứ đều tạo ra cảm giác giàu sang vá víu. Dân số thành phố tăng lên gấp đôi vì có thêm những người từ Moskva và Petrograd. Trong các nhà hát đang diễn vở “Ghen” của Artsybashev[2] và những vở opera Hunggari. Lính tuần tra của các đội kỵ binh Đức đeo lưỡi lê và cầm những lá cờ đen-trắng đi tuần tra trên các đường phố.
Các tờ báo ít đưa tin về những sự kiện ở nước Nga Xô viết. Đây là một đề tài nhạy cảm. Người ta không thích động chạm đến nó. Cứ để cho mọi người tưởng rằng cuộc sống vẫn trôi đi êm đềm.
Trên sân băng những gái đẹp Kiev và các sĩ quan Đức vẫn trượt băng trên những đôi giày trượt có bánh lăn. Nhiều ổ hắc điếm và nhà nghỉ mọc lên. Tại Bessarabka người ta bán công khai cocain và những cô gái điếm tuổi thiếu nữ chào mời khách qua đường.
Còn ở các nhà máy và các vùng ngoại ô công nghiệp người ta đang làm gì thì không ai biết. Bọn Đức cảm thấy không yên tâm. Đặc biệt là sau vụ ám sát viên tướng Eichhorn.
Có cảm tưởng như Kiev hy vọng sống vô tư trong vòng phong tỏa. Ukraine dường như không tồn tại – nó nằm bên ngoài vòng vây của quân Petliura.
Tối tối tôi thường đi đến với nhóm văn nghệ sĩ trên phố Nikolaevskaia. Tại đó có những nhà thơ, ca sĩ và vũ công chạy từ miền bắc xuống đây biểu diễn trong nhà hàng có dàn nhạc đệm. Những người say rượu la hét cắt ngang những giọng ngâm thơ. Trong nhà hàng lúc nào cũng ngột ngạt, và vì vậy mặc dù đang mùa đông đôi khi vẫn phải mở hé cửa. Lúc đó, cùng với không khí giá băng, tuyết cũng bay vào và lập tức tan ngay trong gian phòng thoáng đãng. Và tiếng đại bác ban đêm nghe thấy khá rõ.
Có lần Vertinsky[3] lên hát trong nhóm văn nghệ sĩ. Đến lúc đó tôi chưa từng nghe anh hát với dàn nhạc đệm. Tôi biết anh từ hồi còn là học sinh trung học, một nhà thơ trẻ, viết những bài thơ tao nhã.
Buổi tối hôm đó tuyết rơi dày đặc hiếm thấy, chúng bay vào qua các ô cửa sổ, xoáy lượn, thậm chí bay đến tận chiếc đàn dương cầm, lấp lánh ánh phản xạ của ngọn đèn chùm. Tiếng đại bác nghe gần hơn. Tiếng súng làm những chiếc ly trên bàn kêu lanh canh. Tiếng khóc của thủy tinh dường như báo trước cho mọi người sự nguy hiểm. Nhưng sau những chiếc bàn người ta vẫn hút thuốc, tranh luận, cụng ly và cười đùa. Người có tiếng cười dễ lay lan là một phụ nữ trẻ mặc váy dạ hội với đôi mắt bé như mắt phụ nữ Ai cập. Tuyết tan trên tấm lưng trần của cô, và mỗi lần như vậy cô lại rùng mình và quay lại như muốn nhìn bông tuyết đang tan này.
Vertinsky bước lên bục sân khấu trong chiếc áo đuôi tôm màu đen. Anh là một người cao, gầy và da mặt quá xanh xao. Tất cả lặng im. Các nhân viên nhà hàng tạm dừng việc bê các khay cà phê, rượu, thức nhấm và đứng lại, xếp thành hàng ở góc phía xa của gian phòng.
Vertinsky đan mấy ngón tay nhỏ nhắn, cố hạ thấp tay xuống trước mặt và bắt đầu hát. Anh hát về những học sinh võ quan đã bị giết cách đây không lâu ở ngoại ô Kiev tại làng Borshagovka, về những thanh niên đầu tiên bị đẩy vào chỗ chết chống lại một băng cướp nguy hiểm.
Tôi không biết vì sao và ai cần điều đó?
Ai đẩy họ vào chỗ chết bằng bàn tay nhẫn tâm?
Bài hát về tang lễ các học viên võ quan. Anh kết thúc với những lời như sau:
Những người đến viếng thẩn thờ lặng im co ro trong chiếc áo ấm,
Và một phụ nữ với nét mặt bần thần
Hôn lên đôi môi tái nhợt của người quá cố.
Và chị vứt về phía vị linh mục chiếc nhẫn đính hôn.
Anh hát về một việc có thật xảy ra cách đây chưa lâu trong đám tang của các học viên võ quan. Tiếng vỗ tay vang lên. Vertinsky cúi chào. Một viên sĩ quan đang say rượu ngồi ở chiếc bàn phía xa hét lên ngây dại:
- Hãy hát bài “Cầu xin Chúa phù hộ cho sa hoàng”.
Tiếng ồn ào nổi lên. Một cụ già gầy còm với hàm râu nhọn run run, đeo kính cặp mũi và mặc chiếc áo vét láng bóng vì quá cũ lao đến chỗ viên sĩ quan. Trông cụ giống như một thầy giáo. Cụ bắt đầu đập lên mặt chiếc bàn đá của viên sĩ quan bằng những nắm đấm của hai bàn tay gầy gò bé nhỏ và quát văng cả nước bọt:
- Đồ súc sinh cận vệ! Sao mày dám xúc phạm những người dân của nước Nga tự do như thế hả! Việc của mày là ở ngoài mặt trận chống bọn bônshevich chứ không phải ở đây! Quân ma cô nhà hàng!
Mọi người đứng dậy. Cụ già gầy còm xông vào định đánh viên sĩ quan, nhưng mọi người giữ tay cụ lại và kéo ra. Viên sĩ quan tức tái mặt, hắn từ từ đứng lên, đá chân vào chiếc bàn và lấy tay tóm vào cổ một chiếc chai.
Các nhân viên nhà hàng lao đến chỗ hắn. Người phụ nữ mặc chiếc váy dạ hội hét to và đưa hai bàn tay ôm mặt.
Vertinsky đập mạnh vào phím đàn và giơ tay lên cao. Tất cả im lặng ngay.
- Thưa các ngài! – Vertinsky nói chậm rãi và rõ ràng. – Việc này chẳng có ích gì!
Anh quay người và từ từ bước xuống khỏi sân khấu. Cụ già đeo kính cặp mũi được người ta cho uống nước. Viên sĩ quan ngồi vào bàn như chẳng có việc gì xảy ra và nói trống không:
- Tao đã đánh và sẽ đánh bọn Do thái cho đến khi chui vào quan tài. Tao sẽ cho mày thấy thế nào là cận vệ súc sinh, cái thằng Movshenzon từ Gomel-Gomel kia.
Lại bắt đầu cuộc cãi cọ. Trong gian phòng xuất hiện đội tuần tra của lính cận vệ Serdiuk trực thuộc viên tư lệnh, họ đeo băng sọc xanh sọc vàng trên tay áo.
Tôi ra phố. Tôi đi và bực tức sỉ vã mình. Có bao nhiêu lũ sức sinh đeo những chiếc cầu vai lính cận vệ, thắt những chiếc cổ áo selluloit màu hồng hoặc đội mũ sắt lính Đức nặng trịch. Tôi có cảm giác rằng tôi thiếu lý lẽ để biện minh cho mình, - tôi đã viết rất nhiều và vì vậy tôi đã sống một cuộc sống kép. Thế giới tưởng tượng đã xâm chiếm tôi, và tôi không thể chống lại nó.
Những gì tôi đã viết ra lúc đó giống nhiều hơn với những công việc thăm dò, chỉ sặc sỡ mà chẳng ai cần đến. Trong đó không có gì đáng giá, nhưng lại có nhiều sự dễ dãi và tưởng tượng lộn xộn.
Chẳng hạn như tôi có thể mô tả hàng giờ vẻ lấp lánh đa dạng, dù nó xuất hiện bất cứ nơi đâu, trong mảnh chai vỡ, trong tay vịn bằng đồng trên cầu thang tàu thủy, trong những tấm kính cửa sổ, trong chiếc cốc, trong hạt sương, trong mảnh xà cừ và trong đồng tử con người. Tất cả những cái đó kết hợp lại với nhau trong những bức tranh bất ngờ đối với chính bản thân tôi.
Trí tưởng tượng chân chính đòi hỏi một sự sắc nét, rõ ràng, nhưng điều này tôi ít khi có được. Phần lớn những bức tranh này mờ nhạt. Lúc đó tôi ít khi thành công trong việc tạo ra được tính rõ ràng của thực tế, và tôi quên mất cuộc sống mộc mạc.
Cuối cùng chính ở nơi tôi đã tạo ra cái qui tắc bất di bất dịch cho những ghi chép này. Nhưng không bao lâu sau tôi phát hiện ra rằng liệt kê chúng một cách đầy đủ là một công việc chán ngắt. Tôi phát hoảng. Sức mạnh và sự nghiêm khắc cần thiết cho thể văn xuôi đã biến thành món ăn ngọt ngào, thành kẹo rakhat-lukum, quà bánh. Chúng, những lời văn ngọt ngào này, rất nhớp nháp. Khó mà rửa sạch được.
Tôi quyết giũ bỏ thứ văn xuôi mờ ảo và phù phiếm này, dù rằng không phải lúc nào cũng thành công.
May thay, cái lằn ranh này đã qua nhanh, và tôi đã hủy hết gần như toàn bộ những gì đã viết vào thời ấy. Nhưng thậm chí giờ đây đôi lúc tôi cũng bắt gặp mình đam mê với những lời văn hoa mỹ.
Không bao lâu sau tất cả những ghi chép và những băn khoăn của tôi đã bị hủy sạch một cách bất ngờ.
Quân Petliura siết chặt hơn vòng vây quanh Kiev. Lúc đó tư lệnh Skoropadsky ban hành mệnh lệnh về động viên tất cả đàn ông không trừ một ai từ mười bảy đến ba mươi tuổi. Người chỉ huy quân quản các ngôi nhà chịu trách nhiệm về sự vắng mặt của những người bị động viên. Trong bản mệnh lệnh chỉ viết đơn giàn là trong trường hợp “che giấu” những người đàn ông ở lứa tuổi này thì những viên quân quản các ngôi nhà sẽ bị bắn không thương tiếc.
Bản mệnh lệnh được dán khắp thành phố. Tôi đã đọc nó với vẻ dửng dưng. Tôi cho rằng mình là công dân nước Cộng hòa Liên Bang Nga và vì vậy mình không phải, và cũng không muốn phục tùng bất cứ mệnh lệnh nào của viên tư lệnh.
Một tối mùa đông tôi từ xưởng in về nhà muộn. Gió lạnh thổi rào rào. Những cây dương trên đại lộ Bibikovsky rít lên rầu rĩ.
Tại mảnh vườn con cạnh nhà có một phụ nữ đang đứng, trùm kín trong chiếc khăn choàng ấm. Bà vội vàng đến cạnh tôi và cầm tay. Tôi giật bắn người.
- Im nào! – người phụ nữ nói, và tôi nhận ra giọng nói hồi hộp của bà Amalia. – Ta đi khỏi đây đi.
Chúng tôi đi đến nhà thờ Vladimir. Những trụ đỡ thô thiển chống đỡ cho bức tường đồ sộ.
Chúng tôi dừng lại sau một trụ đỡ, nơi không có gió, và bà Amalia vội vã nói thì thầm, mặc dù chung quanh chẳng có bóng người nào.
- Lạy Chúa là anh đi vắng suốt ngày. Ông ta ngồi ở phòng ngoài từ mười giờ sáng đến giờ. Không đi đâu cả. Thật khiếp!
- Ai cơ?
Ngài quân quản Kturenda. Ông ta chầu chực để tìm anh.
- Để làm gì vậy?
- Ôi, lạy Chúa! – bà Amalia thốt lên và đưa hai bàn tay trong chiếc găng tay lông lên ngực cầu khấn. – Anh đi trốn đi. Tôi van anh. Đừng về nhà nữa. Tôi cho anh địa chỉ của bà bạn tôi – một bà cụ nhân hậu không ở đâu có thể có được trên thế giới này. Tôi đã viết cho bà ấy một bức thư. Anh hãy đến chỗ bà ta. Không xa lắm đâu, ở Glubotchitsa, ở đó tốt hơn. Bà ấy sống một mình trong ngôi nhà nhỏ của mình. Bà ấy sẽ che giấu anh. Còn tôi hàng ngày sẽ mang đến cho anh thứ gì đấy để ăn, cho đến khi mối nguy hiểm qua đi.
- Nhưng đã xảy ra việc gì? – tôi nói. – Tôi không hiểu tí gì cả.
- Chẳng lẽ anh chưa đọc bản mệnh lệnh của tư lệnh sao?
- Đọc rồi.
- Kturenda đến tìm anh. Để giao anh cho quân đội.
Lúc đó tôi mới hiểu được mọi việc.
- Ông ta khóc, - bà Amalia lạnh lùng nói. – Mặt ông ta nhòe nước mắt và ông ta nói, nếu anh chạy trốn thì ngày mai lúc mười giờ người ta sẽ bắn ông ta như một tên cướp cuối cùng.
Bà lấy bức thư trong chiếc găng tay ra và đút vào túi áo bành tô của tôi.
- Anh đi đi!
- Cám ơn bác Amalia Karlovna! Không có gì nguy hiểm với tôi đâu. Tôi là công dân Liên bang Nga. Các mệnh lệnh của viên tư lệnh không áp dụng đối với tôi.
- Lạy Chúa, thế thì tốt! – bà Amalia nói to, không nhận thấy hoặc tha thứ cho lời nói lỗ mãng của tôi, như “chẳng thèm đếm xỉa”. Bà ôm chặt đôi găng tay lên ngực và cười. – Tôi đã không biết được điều đó. Có nghĩa là bây giờ người ta sẽ không đụng đến anh.
- Sẽ không việc gì cả. Mai tôi sẽ đi với Kturenda đến điểm nhận quân, và người ta sẽ cho tôi về.
- Nào, thế thì tốt, - bà Amalia nói sau khi đã bình tâm lại. – Ta về thôi. Tôi đi trước, còn anh về sau tôi vài ba phút để ông ta không đoán ra. Ôi, tôi mệt quá!
Lần đầu tiên tôi khoác tay bà để dìu bà đi. Tôi cảm thấy bà run run.
Tôi đợi ở cầu thang mấy phút và sau đó bước vào căn hộ. Ngài Kturenda đang ngồi trên một chiếc ghế đẩu ở phòng ngoài. Ông lao đến cạnh tôi, tóm chặt hai cánh tay tôi bằng hai bàn tay ám khói thuốc của ông và nói lầm bầm bằng cái giọng run run:
- Hãy vì chúa Giêsu Kitô, đừng giết hại tôi! Tôi đợi anh cả ngày. Anh hãy làm ơn nếu không thương tôi thì thương bà mẹ của tôi.
Tôi nói ngày mai tôi sẽ đi với ông đến chỗ nhận quân, nhưng tất nhiên họ sẽ cho tôi về vì tôi là công dân Nga.
Ngài Kturenda thở dài, vội vã cúi gập người xuống và định hôn tay tôi. Tôi giật tay lại. Bà Amalia đứng ở bậc cửa và nheo mắt nhìn ngài Kturenda. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ở bà đôi mắt như thế. Và tôi bỗng nghĩ nếu tôi bỏ trốn theo lời khuyên của bà Amalia, thì đúng là con người khốn khổ này có thể bị bắn. Tôi nghĩ về việc này và lấy làm ngạc nhiên về sự cứng rắn bình thản của người phụ nữ quá mẫn cảm này.
Ngài Kturenda vừa đi ra, vừa gừi lời cảm tạ tôi. Qua đó ông biểu thị sự tin tưởng chắc chắn rằng tất nhiên người ta sẽ không bắt tôi vào lính, vì “ngài tư lệnh” hoàn toàn không thích thú gì việc giữ trong quân đội của mình những người từ phía Moskva đỏ.
Sau khi rửa mặt ở vòi nước trong bếp, trên đường về phòng mình tôi bị bà Amalia chặn lại ở hành lang.
- Không được nói tiếng nào nhé! – bà nói với vẻ bí mật, cầm tay tôi và kiểng chân dẫn tôi qua gian phòng khách nhỏ đến căn phòng ngoài. Tại đó bà chỉ vào cánh cửa ra vào và ấn nhẹ vai tôi xuống, bắt tôi ghé mắt nhìn qua lỗ khóa.
Tôi nhòm vào. Ngài Kturenda đang ngồi ở chiếu cầu thang trên một thùng đựng trứng gà và đang ngáp không thành tiếng sau khi đưa tay che mồm. Tất nhiên ông không tin tôi và đã quyết định canh chừng tôi cho đến sáng.
- Quân súc sinh! – bà Amalia nói khẽ khi chúng tôi từ phòng ngoài đi vào phòng khách. – Nhưng tôi đã không cho ông ta vào nhà. Tôi tức ông ta đến mức lạnh toát cả đầu. Thức ăn sáng tôi để phần cho anh trong tủ bếp.
Buổi sáng đúng tám giờ Kturenda bấm chuông cửa. Tôi mở cửa cho ông ta. Đôi mắt đỏ quạch của ông nhòe nước mắt. Chiếc nơ cổ thỏng xuống các tai nơ nhàu nát và trông ông thật thảm hại.
[1] “Tư duy Kiev” – tờ báo văn học và chính trị ra hàng ngày, của phong trào dân chủ tư sản. Xuất bản tại Kiev từ 1906 đến 1918.
[2] Artsybashev Mikhail Petrovich (1878-1927) – nhà văn Nga, người cổ súy chủ nghĩa đại xá trong các cuốn tiểu thuyết theo chủ nghĩa tự nhiên. Sau năm 1917 sống lưu vong.
[3] Vertinsky Aleksandr Nikolaevich (1889-1957) – nghệ sĩ của dàn nhạc, nhà thơ, nhạc sĩ Nga.
"VỊ TƯ LỆNH KHỐ RÁCH ÁO ÔM CỦA CHÚNG TÔI" - Paustovsky K.
chauphanbach | 02 January, 2012 21:10
"VỊ TƯ LỆNH KHỐ RÁCH ÁO ÔM CỦA CHÚNG TÔI"
(Tiếp theo)
Chúng tôi đến điểm nhận quân ở chợ Galitsky. Ngài Kturenda đầu óc quay cuồng, giữ chặt tay tôi. Rõ ràng là ông vẫn lo tôi bỏ chạy vào khoảng sân có lối đi qua đầu tiên.
Tại điểm nhận quân mọi người phải xếp hàng. Mấy viên quân quản các ngôi nhà cầm những quyển sổ kê khai dày lăng xăng cạnh những người bị động viên. Bộ dạng của những viên quân quản như người có lỗi và xun xoe. Họ lấy thuốc lá nài nỉ mời những người bị động viên hút, dúi thuốc lá tận tay và bắt chuyện với mọi người, nhưng không giây phút nào rời khỏi những người bị họ giám sát.
Ngồi trong góc xa căn phòng hôi mùi nhà bếp là viên sĩ quan của bộ tư lệnh, đeo cầu vai sọc vàng sọc xanh. Ông ta ngồi rung chân dưới bàn
Đứng trước tôi là một thanh niên ốm yếu, để râu và đeo kính. Anh ta chờ đợi với vẻ ủ dột và im lặng. Khi đến lượt anh ta, để đáp lại câu hỏi của viên sĩ quan về nghề nghiệp anh ta trả lời:
- Tôi là người đo nước.
- Bá tước à? – viên sĩ quan hỏi lại, nghiêng người trên ghế và nhìn anh thanh niên với vẻ hài lòng không giấu diếm. – Một con chim hiếm! Tôi đã gặp các nhà quí tộc và thậm chí cả các nam tước, nhưng các bá tước thì chưa gặp bao giờ.
- Tôi không phải bá tước mà là người đo nước.
- Im ngay! – viên sĩ quan thản nhiên nói. – Tất cả chúng tôi đều là bá tước. Chúng tôi biết những bá tước này và những người đo nước. Vì những câu chuyện nhảm nhí anh sẽ phải đổ mồ hôi ở chỗ tôi trong đội sản xuất.
Anh thanh niên chỉ còn biết nhún vai.
- Người tiếp theo!
Người tiếp theo là tôi
Tôi đưa cho viên sĩ quan các giấy tờ tùy thân và khẳng định rằng tôi là công dân Liên bang Xô viết Nga, tôi không phải theo lệnh nhập ngũ vào quân đội của viên tư lệnh.
- Thật ngạc nhiên thay! – viên sĩ quan nói và cau có nhướng cặp lông mày lên. – Đơn giản là tôi thấy thích thú với những lời của anh. Nếu biết trước là anh đoái hoài đến trình diện thì tôi đã gọi đội quân nhạc đến đây.
- Những lời nói đùa của ông không liên quan gì đến công việc.
- Anh muốn gì? – viên sĩ quan hỏi lại với vẻ giận dữ và đứng dậy. – Hay là anh muốn cái này?
Hắn giơ nắm đấm miệt thị dứ vào mặt tôi.
- Đồ hủi! – hắn nói. – Vứt mẹ nó cái quốc tịch xô viết-do thái của anh đi. Tôi cóc cần đến nó.
- Ông không được nói như thế! – tôi nói, cố giữ bình tĩnh.
- Thằng nào cũng chọc vào mắt tao cái từ “không được”, - viên sĩ quan chán nãn nói và ngồi xuống. – Thôi đủ rồi! Để tôn trọng cái quốc tịch bồ đề của anh tôi đưa anh vào trung đoàn Serdiuk. Vào đội cận vệ của chính ngài tư lệnh. Ông hãy cám ơn chúa đi. Giấy tờ để lại ở chỗ tôi. Người tiếp theo!
Trong thời gian diễn ra cuộc nói chuyện này với viên sĩ quan bộ tư lệnh thì ngài Kturenda đã chuồn về. Người ta đưa những lính bị động viên chúng tôi đến các trại lính ở Deminevka có lính áp tải.
Tất cả trò hề này kèm theo những chiếc lưỡi lê của binh lính vô nghĩa và phi lý đến mức lần đầu tiên tôi cảm thấy nóng cả người trong trại lính lạnh lẽo. Tôi ngồi lên bậu cửa sổ đầy bụi, hút thuốc và suy nghĩ. Tôi sẵn sàng chấp nhận bất kỳ sự nguy hiểm, khó khăn nào, nhưng không phải là cái trại lính này với quân đội của viên tư lệnh. Tôi quyết định dò la và trốn chạy cho nhanh.
Nhưng cái trại lính này tỏ ra là nơi khá đẩm máu. Ngay chiều hôm đó lính gác đã bắn chết hai thanh niên quê ở làng Predmostny chỉ vì họ đi ra khỏi cổng và không dừng lại ngay khi có tiếng hô.
Tiếng đại bác nổ ngày càng gần. Tình hình đó làm yên lòng hơn đối với những ai còn chưa mất hết khả năng hồi hộp. Tiếng đại bác hứa hẹn một sự thay đổi chưa biết theo chiều hướng nào, nhưng đã cận kề. Khẩu hiệu “Già néo đứt dây” có lẽ rất được dùng phổ biến vào thời đó.
Phần lớn lính động viên đều là những “thanh niên đầu bò đầu bướu”. Trong thành phố người ta gọi như thế đối với bọn càn quấy và trộm cắp từ các vùng ngoại ô bất trị - Slomenka và Shuliavka.
Toàn là những thanh niên hư hỏng và ngổ ngáo. Họ tình nguyện gia nhập vào quân đội của viên tư lệnh. Rõ ràng là cái đội quân đó đang cố sống những ngày cuối cùng, và bọn “thanh niên đầu bò đầu bướu” này biết rõ hơn ai hết rằng cái giai đoạn nhốn nháo sắp đến sẽ không bị thu hồi vũ khí và chúng tự do cất giấu và phủi tay. Bởi vậy bọn “thanh niên đầu bò đầu bướu” cố gắng tạm thời không làm cho lãnh đạo nghi ngờ và bằng mọi cách thể hiện mình là những chiến sĩ mẫn cán của viên tư lệnh.
Trung đoàn được mang tên là “Trung đoàn Serdiuk của ngài đại quan nỗi tiếng tư lệnh Pavel Skoropadsky.
Tôi rơi vào đại đội do một cựu phi công Nga chỉ huy – “ngài bách quân”. Ông không biết một từ Ukraine nào, ngoài một số khẩu lệnh, mà lại còn hô bằng cái giọng thiếu tin tưởng. Trước khi hô “pravotruch” (quay phải) hoặc “livotruch” (quay trái) ông đều suy nghĩ một chốc để nhớ khẩu lệnh, sợ nói nhầm và làm rối loạn hàng ngũ. Ông công khai thể hiện sự ác cảm với quân đội của viên tư lệnh. Thỉnh thoảng ông lắc đầu nhìn chúng tôi và nói:
- Ôi cái quân đội của quốc vương trác táng! Bọn lưu manh, du côn và lũ nhu nhược!
Ông luyện tập một cách tắc trách cho chúng tôi trong mấy ngày về đội ngũ, về sử dụng súng trường và lựu đạn cầm tay. Sau đó người ta trang bị cho chúng tôi quân phục màu xanh sợi thuốc lá và mũ kêpi đính quốc huy Ukraine, giày cũ và xà cạp rồi đưa ra diễu binh ở Kreshatika, hứa hẹn ngay sau hôm diễu binh sẽ đưa ra mặt trận đánh nhau với quân của Petliura.
Chúng tôi cùng với một số ít ỏi các đội quân khác đi qua Kreshatika cạnh tòa nhà viện duma thành phố, nơi hồi bé tôi đã rơi vào giữa cuộc bắn nhau. Cũng như xưa, tổng lãnh thiên thần Mikhail vẫn đứng thăng bằng một chân trên nóc tòa nhà hình trụ của viện duma.
Cạnh viện Duma, vị tư lệnh cưỡi trên lưng con ngựa tía giống Anh, mặc áo tcherkeska trắng và đội chiếc mũ lông cao nhỏ nhàu nhỉ. Trên một cánh tay buông thõng ông cầm chiếc roi ngựa.
Phía sau vị tư lệnh mấy tên tướng Đức đội mũ sắt đính ngù vàng cưỡi trên những con ngựa đen bằng gang ngồi bất động như tượng. Hầu hết những người Đức đều có ống nhòm lấp lánh trên mắt. Trên các vỉa hè tụ họp đông đúc hàng đám những người dân Kiev tò mò.
Một số người diễu hành qua và hô loạc choạc tiếng hô “vinh quang” về phía vị tư lệnh. Để đáp lại ông ta chỉ nâng chiếc roi ngựa lên ngang mũ và thúc nhẹ vào con ngựa.
Trung đoàn chúng tôi quyết định làm cho viên tư lệnh kinh ngạc. Khi vừa đi ngang trước ông ta cả trung đoàn cất tiếng hát một bài ca xu nịnh:
Người thân thiết của chúng tôi, người thân thiết của chúng tôi,
Tư lệnh của chúng tôi khố rách áo ôm,
Tư lệnh của chúng tôi khố rách áo ôm,
Pavel Skhropadsky!
Các “thanh niên đầu bò đầu bướu” hát rất dõng dạc – với tiếng rít và tiếng hô “ôi” hiên ngang tuyệt vọng khi bắt đầu mỗi đoạn câu:
Ôi, người thân thiết của chúng tôi, người thân thiết của chúng tôi,
Tư lệnh Skhropadsky,
Tư lệnh Skhropadsky,
Vị thủ lĩnh khố rách áo ôm,,
“Bọn thanh niên” tức giận vì việc không bao lâu nữa người ta đưa chúng tôi ra trận, và không chịu phục tùng.
Skoropadsky không nao núng. Ông vẫn bình tĩnh giơ cao roi ngựa lên ngang vành mũ, cười gằn, làm như nghe thấy một câu đùa dễ thương, và liếc mắt sang các viên tướng Đức. Những chiếc ống nhòm của chúng lấp lánh với vẻ giễu cợt, và chỉ qua đó có thể nhận thấy rằng chắc bọn Đức hiểu được đôi chút những lời của bài hát này. Còn từ những đám đông người Kiev trên các vỉa hè rộ lên tiếng rào rào thán phục.
Người ta dựng chúng tôi dậy lúc trời vẫn còn tối. Đằng đông ánh bình minh không cần đến đã le lói. Trong buổi sáng u ám này, trong mùi dầu hỏa khét lẹt của trại lính, trong mùi trà đặc, mùi cá trích thoang thoảng, qua đôi mắt nhợt nhạt vì sự thất vọng lặng lẽ của “ngài trăm quân” và trong những chiếc giày ướt lạnh ngắt không thể nào xỏ chân vào được, bao trùm một không khí ảm đạm đặc quánh và phi lý, một nỗi buồn làm trỗng rỗng con tim và khủng khiếp đến mức tôi đã định hôm nay sẽ nhất quyết phải trốn thoát khỏi “trung đoàn Serdiuk của ngài tư lệnh nổi tiếng”.
Trong giờ điểm danh mới tá hỏa ra rằng vắng mất mười hai người. Viên phi công thất vọng khoát tay và nói:
- Nào, mặc mẹ các cậu! Xếp hàng!
Chúng tôi đứng vào hàng cho xong chuyện.
- Đi đều, bước! – viên phi công hô, và chúng tôi co ro bước từ trong doanh trại ẩm và ấm áp đáng ngờ ra ngoài không khí khó chịu của buổi sáng sớm mùa đông.
- Nhưng chính cái mặt trận kia ở đâu nhỉ? – một giọng ngái ngủ từ những hàng cuối ngạc nhiên hỏi. – Chẳng lẽ chúng ta cứ đi bộ đến đó hay sao?
- Cậu chưa nghe chuyện về cái nhà thổ của madam Tsimkovich hay sao? Ở Priorka? Thế đấy, ở đó chính là mặt trận. Đại bản doanh của vị tổng chỉ huy.
- Tốt nhất là các cậu im đi, - “ngài trăm quân” nói như ra lệnh. – Lạy chúa, nghe chướng cả tai. Mà nói chung không được nói chuyện khi hành quân.
- Tự chúng tôi cũng biết cái gì được, cái gì không được.
“Ngài trăm quân” chỉ thở dài và đi tách xa một chút sang bên cạnh hàng quân. Rõ ràng là ông hơi sợ những “thanh niên đầu bò đầu bướu”.
- Họ đã bán Ukraine lấy một chai Schnaps – một giọng trầm tức giận nói. – Còn cậu bây giờ hãy lội vào đám tuyết lẫn phân ngựa này. Thật quái gở!
- Hãy tống cổ tất cả bọn chúng về với lão dượng ghẻ - và đợi đấy!
- Tất cả là những ai?
- Thế đấy – tất cả! Cả thằng Petliura, cả viên tư lệnh chó má, và cắt cổ tất! Hãy để cho mọi người được hít thở yên lành.
- Này ngài trăm quân, sao ngài lại im như thóc thế? Mặt trận ở đâu rồi?
- Ở gần Priorka, - viên phi công miễn cưỡng trả lời. – Cạnh Pusha Voditsa.
- Ôi-ôi-ôi! Ông chẳng nhân hậu chút nào! Thế là phải lội bộ hàng chục dặm.
- Không sao, - viên phi công trả lời. – Sẽ có xe chở chúng ta.
Trong các hàng quân có tiếng cười khẽ.
- Hay nhỉ, đi bằng gì đây?
- Rồi các cậu sẽ thấy.
- Trong các chiếc xe lando của sa hoàng. Với mấy chiếc xe như thế chúng ta là những người anh hùng một lòng một dạ vì đất nước, không thể nào khác được.
Đến giờ tôi cũng chưa hiểu được với lực quán tính nào mà chúng tôi vẫn đi và đi, dù rằng mỗi chúng tôi, trong đó có cả “ngài trăm quân”, đều hiểu rằng đi ra mặt trận là một việc làm vô nghĩa và rằng giờ đây chúng tôi có thể yên ổn ai về nhà nấy mà không gặp trở ngại nào.
Nhưng chúng tôi vẫn cứ đi và đến Podol, đến quảng trường Kontrakvov. Nơi đó bắt đầu một cuộc sống ban mai bình yên – những cậu bé mặc đồng phục xám đang đến trường, tiếng chuông ngân trong tu viện Bratsky, mấy bà nông dân đang đuổi theo các con bò gầy guộc, mấy hiệu cắt tóc nhem nhuốc đang mở cửa, và những bà quét sân đang quét lớp tuyết nhão xám xịt trên vỉa hè.
Trên quảng trường Kontraktov có hai toa tàu điện cũ kỹ không mái che đang đỗ.
- Lên xe! – viên phi công chợt bất ngờ tươi tỉnh ra và hô to.
Đại đội ngơ ngác dừng lại.
- Nói rồi – lên xe! – viên phi công bực mình. – Tôi đã bảo rồi, người ta sẽ chở chúng ta đi. Đây là tàu điện quân sự.
Các binh sĩ Serdiuk vui vẻ chuyện trò huyên náo.
- Chúng mình đi đánh trận rất có văn hóa!
- Chà, bố Gervasia thật dở hơi! Ra trận bằn tàu điện.
- Nhanh lên, các chàng trai! Đừng làm chậm tàu.
Chúng tôi nhanh chóng chiếm chỗ trên hai toa xe điện. Xe kêu loảng xoảng, khẽ rung và kéo lê trên con đường đá Podol và phố Priorka hiu hắt dẫn đến Pusha Voditsa.
Qua Priorka các toa xe dừng lại. Chúng tôi xuống xe và đi không theo hàng ngũ sau viên phi công qua các phố có những túp nhà cong cong và qua những bãi tuyết, nơi có nhiều bãi phân đang bốc hơi. Phía trước là một công viên cỗ rộng lớn. Đây là biệt thự “Hãy vứt bỏ nỗi buồn” nổi tiếng mà tôi đã quen thuộc từ thuở còn bé.
Tại rìa công viên dọc theo con dốc đầy tuyết người ta đã đào các công sự có những đường hào nối vào nhau, những hầm trú ẩn và những “hang cáo”. Những công sự làm cho mấy người lính Serdiuk thích thú một cách bất ngờ, chỗ trú ẩn khá an toàn.
Viên phi công chiếm một hầm trú ẩn, còn mấy “thanh niên đầu bò đầu bướu” chiếm ngay hai “hang cáo”. Chỉ sau mấy phút họ đã say mê chơi bài ở đó bên chiếc ván gỗ.
Tôi đứng ở trạm quan sát. Phía trước, bên kia một cánh đồng rộng bát ngát xanh cánh rừng thông ở Pusha Voditsa lá ỉu xìu vì gió ấm. Từ nơi đó quân Petliura (chúng tôi gọi họ là “quân dao phay”) uể oải bắn cầm canh. Những viên đạn rít qua trên đầu khe khẽ và không có gì nguy hiểm, nhưng đôi lúc cũng bay đánh xoẹt vào bờ chiến hào. Viên phi công ra lệnh không được nhô người lên trên bờ chiến hào và không bắn trả quân Petliura.
Bên phải, trên sông Dnepr bầu trời bàng bạc và con đường ruộng xam xám màu phân bò dẫn vào rừng. Bên trái, từ phía Sviatoshin vang đến tiếng đại bác nổ rất to.
Tôi cố nhìn về phía cánh rừng với hy vọng nhìn thấy dù chỉ một người lính Petliura mà vẫn không thấy ai cả. Mặc dù chỉ là sự lay động của bụi cây nào đó. Nhưng cả cái đó cũng không thấy.
Đứng ở đó quá buồn. Tôi hút thuốc. Cách đây không lâu tôi kiếm được ba bao thuốc lá Odessa hiệu “Salve” và rất tự hào về việc này. Những điếu thuốc to, nặng và thơm.
Tôi hút thuốc và vì chẳng có việc gì để làm tôi lần giở lại trong ký ức toàn bộ cuộc đời trong những năm gần đây. Bức tranh hiện ra rất sặc sỡ.
Tôi nghĩ đã đến lúc cần thu xếp cuộc sống ổn định, dù chỉ là tương đối, và hướng nó vào việc thực hiện ước muốn trở thành nhà văn của mình. Tôi đã hai mươi sáu tuổi, thế mà tôi chưa viết được cái gì cho ra trò – tất cả chỉ là những đoản văn, những phác thảo và những bài tập. Cần phải có chí hướng, từ bỏ cái ngẫu hứng.
Tôi cảm thấy có vật gì đó không nhìn thấy rõ, chỉ nhận ra lờ mờ, đang di chuyển ở phía bên phải, phía sau con đường ruộng. Ở đó có một ngôi mộ cổ. Trên một trong những gò mộ có một cây thánh giá đứng nghiêng nghiêng. Và bỗng dưng cả cái ngày u ám này, cả cây thánh giá, cả tiết trời trở ấm, cả những con quạ đang kêu sau lưng tôi trong khu công viên tối om, cả con đường phủ kín rơm mục như đã từ lâu trở nên quen thuộc đối với tôi. Thậm chí tôi rên lên vì cảm giác đó. Cũng chính vào một ngày giống hệt như thế này và trên một mô đất như thế này ven làng ba năm về trước Lelia đã được an táng. Ba năm mà cứ tưởng như bằng cả ba chục năm. Ở đó giờ đây vẫn bị chiếm đóng bởi bọn Đức đáng nguyền rủa, thời tiết vẫn ướt át, thậm chí ngôi mộ nàng cũng không còn dấu vết. Không một khoảnh khắc nào tôi có thể hình dung đến việc những nắm xương của nàng đang nằm dưới đất. Tôi không tin được điều này. Tôi có cảm giác như vĩnh viễn nàng sẽ nằm như vậy, nguyên vẹn như khi chúng tôi đặt nàng vào quan tài, - tái xanh, đẹp kín đáo, bình thản và trẻ trung, với bóng tối u buồn từ hàng mi đổ lên đôi má.
Tôi không thể nói với ai về việc này, ngay cả mẹ. Tôi âm thầm mang trong tim nỗi đau hằn sâu trong tim. Không có ngày nào tôi quên được nó, không một ngày nào, mặc dù tôi không nhắc đến việc này trong những chương trước của tập sách.
Vâng, có lẽ chẳng nên nhắc lại làm gì. Có thể nhà văn tin rằng bàn tay lạnh lùng của nhà phê bình hoặc cái nhìn khắt khe của bạn đọc sẽ không chạm đến một cách thô bạo và có tính chất nhạo báng vào những việc làm rung động trong trái tim nhà văn. Như giọt lệ cuối cùng chực rơi xuống đất. Có thể nhà văn tin rằng chẳng có ai đến lau giọt lệ này và nó không để lại trong tâm hồn một vết bầm.
Tôi nhớ Lelia, tôi lại rít thuốc liên tục, sau đó để tìm cách gì đó xoa dịu nỗi ưu tư bất ngờ đang dày vò mình tôi ấn tay vào cò súng. Khẩu súng đang để trên bờ chiến hào. Một tiếng nổ vang lên. Ngay lập tức những phát súng bắn loạn xạ từ phía ngôi mộ. Chắc bọn lính Petliura đang tập trung ở đó, và phát súng của tôi làm chúng lo sợ.
Viên phi công vọt lên khỏi hầm trú ẩn. Chúng tôi bắn trả dồn dập về phía ngôi mộ. Nhìn thấy rõ mảnh gỗ mục bay ra từ trên cây thánh giá, sau đó có những người nào đó từ dưới đất vọt dậy và chạy từ ngôi mộ vào trong rừng. Mấy “thanh niên đầu bò đầu bướu” bắn theo sau lưng họ, huýt gió qua kẻ tay và chửi rủa om sòm. Cuộc tấn công của binh lính Petliura thất bại.
Đến thay tôi trong chiến hào là một sinh viên đầu tóc rối bù, mang cặp kính dày, có lẽ là người theo đạo.
Tôi chui vào “hang cáo”. Ở đó một ngọn đèn dầu đang xông khói. Tôi lôi từ trong túi ra bánh mì và một miếng giò hun khói và bắt đầu ăn. Một người lính trực ban đến chỗ tôi – một người đàn ông có cặp mắt lanh lợi, nhiều vết sẹo trên mặt và một vết xăm trên bàn tay – tại đó có hình đôi môi cong cớn của phụ nữ. Khi người đàn ông lanh lợi này duỗi thẳng bàn tay ra đôi môi hé mở như để hôn, còn khi anh nắm tay lại – đôi môi mím chặt.
Vết xăm này được mấy “thanh niên đầu bò đầu bướu” trầm trồ khen ngợi.
Người đàn ông lanh lợi rót cho tôi một ca nước trà nóng, cho ba viên đường và, sau khi vỗ vai tôi anh nói về những thứ này:
- Trà của Vysotsky, đường của Brodsky, còn nước Nga – của Trotrsky. Tôi nói vậy có đúng không?
Không đợi trả lời, anh đi khỏi chỗ tôi, ngồi xuống chiếc ván gỗ, vừa chơi bài vừa văng tục và làm trò hề. Tiếng súng đại bác từ phía Sviatoshina nổ mỗi lức một to hơn. Sau mỗi phát đạn ngọn đèn dầu bốc khói nhiều hơn.
Tôi ấm người hơn và ngủ thiếp đi, lưng tựa vào tường.
Tôi tỉnh giấc vào lúc nửa đêm vì tiếng chửi nhau om sòm loạn xạ. Những người chơi bài đánh nhau. Mọi người đè anh đàn ông lanh lợi ép ngực vào bàn và im lặng đấm vào cổ anh ấy.
Người đàn ông lanh lợi không chống cự và im lặng – có lẽ họ đánh anh có lý do.
Người ta gọi ba người từ trong hầm công sự ra thay ca trực. Những “thanh niên đầu bò đầu bướu” tha cho anh chàng lanh lợi, và ba người chúng tôi đi ra – anh ấy, tôi và một người đàn ông cao mặc quân phục kỵ binh.
Trong chiến hào tôi đứng cạnh người đàn ông lanh lợi.
Nửa đêm trời bắt đầu ẩm ướt. Tuyết tan xào xạc, và có cảm giác như chung quanh chúng tôi lũ chuột đang đào hang.
Anh đàn ông lanh lợi lầm bầm văng tục cho đến khi người lính mặc quân phục kỵ binh nói với anh ta bằng cái giọng the thé với vẻ giận dữ:
- Mày có im đi không, thằng thổ tả, hay đợi tao đánh cho què quặt. Như đánh chó!
Anh chàng lanh lợi nhổ nước bọt, đến cạnh tôi, ngồi chồm hổm xuống, im lặng một chốc rồi nói:
- Này người anh em, đừng có làm cho tôi tàn phế! Tôi đã tự làm cho mình mình tàn phế rồi! Cả cái mặt tôi đã tàn phế rồi, đầy vết sẹo. Anh thấy cả rồi chứ?
- Thấy rồi, - tôi nói. Tôi thấy không muốn nói chuyện với con người tạp nham này.
- Có thể nói rằng cái đó nói chung chẳng phải là những vết sẹo, - người đàn ông lanh lợi nói với giọng buồn khá bất ngờ. – Nó là một câu chuyện tình chưa từng có được viết trên lớp da gớm ghiếc của tôi.
(Xem tiếp)
“VỊ TƯ LỆNH KHỐ RÁCH ÁO ÔM CỦA CHÚNG TÔI” - Paustovsky K.
chauphanbach | 02 January, 2012 21:05
“VỊ TƯ LỆNH KHỐ RÁCH ÁO ÔM CỦA CHÚNG TÔI”
(Tiếp theo)
Con người lanh lợi cười gượng gạo. Dường như anh nghẹn lời.
- Vào thời kỳ đó tôi làm việc trên chiếc tàu thủy Volga của hội “Kabkaz và Merkuri”. Tôi làm bồi bàn trong hiệu ăn trên tàu. Và có lần một nữ sinh trung học lên tàu chúng tôi ở Kostrom. Cô ấy đi đến Simbirsk. Cho đến lúc đó tôi đã chung đụng với nhiều phụ nữ, những bạn gái làm trên tàu. Tôi dễ dàng tiếp cận họ. Có những người đàn ông khóc lóc, đập đầu vào tường khi người phụ nữ bội tình với họ. Còn tôi thì không phải chịu cảnh đó. Tôi giành tất cả về phần mình. Nào, cô cứ thay lòng đổi dạ đi – và nghỉ khỏe nhé! Xin mời đi luôn! Tôi may mắn gặp được những người thèm khát. Không một người đàn bà nào không thèm khát hoặc là tình yêu, hoặc là tiền bạc. Số đàn ông làm bồi bàn nhiều hơn số chị em rửa bát trẻ hơn họ… Vâng… Cô nữ sinh trung học này lên tàu và đến ăn tối ở hiệu ăn. Hoàn toàn một mình. Mặt xanh xao, xinh đẹp, và thấy rõ là mọi thứ đều lạ lẫm đối với cô, thấy rõ là cô đang bối rối. Mấy bím tóc toàn màu vàng, dày và quấn thành lọn sau gáy. Khi bê thức ăn đến cho cô tôi đã chạm tay vào những lọn tóc này. Tôi rợn cả người – sao nó mát lạnh đến thế và, có thể nói là nó mềm mại. Tất nhiên là tôi đã xin lỗi, còn cô ta chỉ nhíu mày, liếc nhìn tôi, nói “không sao” và bình thản sửa lại bím tóc. Thấy rõ là cô ta rất tự hào.
“Nào, - tôi nghĩ, - thất bại rồi!”. Điều chủ yếu là sự trong trắng của cô ta đã quật ngã tôi. Cây táo trổ hoa giống như thế - tất cả đều thơm ngát. Và ngay lập tức tôi thấy buồn, thậm chí tôi còn phát sốt lên vì cô ta. Chỉ muốn đập đầu vào tường cho quên đi cái ý nghĩ rằng đến Simbirsk cô ấy sẽ xuống tàu, và mày sẽ ở lại trên con tàu với trái tim tan vỡ chằng còn cần đến của mình. Nhưng tôi vẫn cố chịu, xem đồng hồ - dù sao cũng còn hai ngày đêm nữa mới đến Simbirsk. Tôi sẽ mang đến cho cô những thức ăn ngon nhất có được, thậm chí còn hứa tặng đầu bếp một xị rượu để ông làm món nộm ngon hơn. Còn cô ta, thật dễ hiểu là còn thiếu kinh nghiệm và không nhận ra điều đó. Một phụ nữ còn quá trẻ, đúng ra là một cô bé. Tôi đã thử bắt chuyện với cô ta, mặc dù những người bồi bàn chúng tôi tất nhiên bị cấm làm như thế. Luật lệ là thế này – im lặng và nhanh chóng mang thức ăn đến, còn trong các cuộc chuyện trò với quí ngài hành khách, thì đừng có chõ cái mõm dài ngoẵng của mày vào, đừng có mà suy nghĩ đến việc đó. Mày chỉ là thằng đầy tớ, hãy biết giữ mình cho phù hợp: “vâng ạ”, “xin đợi cho một phút”, “xin ngài đặt món gì”, “xin đa tạ” (đó là khi đưa trà đến).
Không thể tìm được lúc nào để nói chuyện với cô ta, - cậu bồi bàn thứ hai tên là Nikodim cứ quanh quẫn mãi. Cuối cùng tôi cũng gặp may, - Nikodim đi xuống bếp. Lập tức tôi hỏi ngay: “Xin được hỏi cô đi đến đâu ạ?”. Cô ngước mắt nhìn tôi – đôi mắt nâu, tối màu, còn hàng mi như một đêm êm dịu, và trả lời: “Đến Simbirsk. Mà sao cơ?”. Và chính bằng cái từ “sao cơ?” này cô ta đã làm cho tôi luống cuống hẵn. “Vâng không sao, - tôi nói. – Tôi chỉ muốn cảnh báo với cô rằng, là hình như cô đi một mình, mà trên tàu thì đủ loại người. Có thể nói là những người bẩn thỉu, thiếu lương tâm, đặc biệt là khi tiếp xúc với những người đàn bà trẻ yếu đuối”. Cô nhìn tôi, nói “em biết” và mỉm cười. Và lúc đó tôi hiểu ra rằng tôi sẽ hiến dâng tất cả máu của tôi từng giọt một cho mỗi nụ cười của cô ta và sẽ không ai nghe thấy thậm chí cả tiếng rên của tôi.
Tôi không có dịp nói chuyện với cô lần nào nữa. Tất nhiên tôi đã cố ý mang mấy bông hoa từ hai-ba chiếc bàn khác sang đặt trên bàn cô ta, - dù chỉ bằng việc làm nho nhỏ này, tôi nghĩ, tôi sẽ làm cho cô hiểu rằng cô là người thân yêu nhất đối với tôi trên thế gian này. Nhưng có lẽ cô ấy cũng không nhận thấy.
Ngay sát lúc gần đến Simbirsk Nikodim bỗng gây sự. Mà lại còn gây sự khi cô ấy có mặt. “Cậu làm cái kiểu gì vậy, hắn nói, mấy bông hoa của tớ cậu đưa sang chỗ cậu! Bông hoa tuy líp đẹp thế!”. Tất nhiên cô ấy đã đoán ra, cô đỏ mặt nhưng không ngước mắt lên.
Cậu có tin không. Tớ chỉ kể lại điều này với mỗi một mình cậu lần đầu tiên trong đời. Cậu đừng nói lại với thằng lưu manh nhé. Nó sẽ làm hỏng hết mọi việc ngay, mà trong đời tớ chưa có việc gì hay hơn, tớ thề đấy. Mà dù tớ có phục thiện đi nữa, hay có thể nói, là một tên trộm hoàn toàn trung thực, nhưng tớ cũng không đê tiện đến mức kể điều đó cho thằng lưu manh, không làm việc đó đâu. Cậu có tin không?
- Tớ tin, - tôi trả lời. – Cậu kể hết đi.
- Không có hồi kết, - anh chàng lanh lợi nói và nhắc lại với giọng có vẻ đe dọa bất ngờ. – Không có hồi kết! Còn tớ thì nghĩ rằng rồi nó sẽ có. Mà cậu không có lý do gì để nghi ngờ tớ. Cậu đừng ngắt lời tớ. Vâng… Sáng hôm sau con tàu của bọn tớ sẽ phải đến Simbirsk, mà trong đầu tớ - cậu có hiểu điều gì không! Tớ chỉ biết mỗi một việc – giờ đây tớ không thể chia tay cô ta. Dù từ đằng xa, dù lén lút, nhưng tớ sẽ đi theo cô ta cho đến tận cái chết nhục nhã của mình. Tớ có cần gì nhiều đâu. Chỉ cần hít thở chung một bầu không khí với cô ta. Vì rằng bầu không khí khác đối với tớ sẽ là khí độc. Cậu có hiểu điều đó không? Cậu đã đọc những quyển sách về tình yêu, - ở đó có nói về cái đó rồi. Vâng! Sáng ra tớ đã có một kế hoạch chắc chắn trong đầu là tớ sẽ phải làm gì. Ban đêm tớ đã ăn trộm tiền bán hàng để trong két của chủ hiệu ăn, và chỉ khi mọi người đến Simbirsk – tớ đang mặc cái gì đây, mặc chiếc áo đuôi tôm của người hầu bàn – tớ chạy lên bờ, như muốn mua củ cải ở chợ. Và thế là ở lại.
Có đủ tiền cho thời gian đầu, còn về khoản quần áo thì tất nhiên trông tớ thật đáng ngờ. Tớ đã mua một chiếc áo vét. Tất nhiên phải dõi theo cô ta. Và thật hạnh phúc cho tớ, xế trước mặt ngôi nhà nơi cô ta sống với người bà, - một ngôi nhà cổ với mảnh vườn và bụi cây gai, - xế cạnh đó có một tữu quán. Một tữu quán không giàu sang lắm, nhỏ thôi, thậm chí không có tiếng chim hoàng yến hót.
Tớ mai phục chắc chắn trong quán rượu này. Tớ bịa chuyện là đã thỏa thuận với một đồng chí ở Simbirk về việc mua bán ngỗng, nhưng đồng chí bị chậm và sẽ không đến. Thế là tớ ngồi buồn thiu ở đây, chờ đợi. Tớ không biết là người ta chỉ mua ngỗng vào mùa thu chứ không phải mùa hè.
- Rồi thế nào, có thấy cô ta không? – tôi hỏi.
- Thấy. Hai lần. Cô ấy đi qua vòi hoa sen và cởi sạch mọi thứ trên người. Lúc đó tớ chẳng còn biết gì nữa. Chỉ biết mỗi một điều, đó là vui quá. Tất nhiên cô ấy không hề ngờ vực gì, và có lẽ cô ấy đã quên tớ, - một thằng đàn ông với bộ dạng khó coi, tớ tự biết mình – hàm răng như răng chồn, mắt như mắt chuột. Và người ta bàn tán đủ chuyện, lạy chúa. Tớ cần đếch gì họ! Đừng rước lấy cái đẹp và đừng chiếm lấy nó, đừng cố sức làm gì.
Tiếng súng máy của quân Petliura vang lên ở bìa rừng một loạt ngắn buồn tẻ rồi im bặt.
- Nhảm nhí tất, - anh chàng lanh lợi nói. – Cả viên tư lệnh, cả bọn Petliura. Và tất cả cái mớ bòng bong này, cái cuồng loạn này. Tất cả những cái này bày ra để làm gì, tớ không hiểu. Và cả cuộc săn tìm không hiểu nổi.
Hắn ngừng lời.
- Cậu làm sao thế, - tôi nói. – Vừa bắt đầu kể chuyện rồi lại bỏ dỡ.
- Không, tớ không bỏ dỡ đâu. Tớ sống ở Simbirsk vẻn vẹn có mười ngày, và sau đó chủ quán rượu – một người đàn ông có vẻ ốm yếu, tốt bụng – vẫy tớ đến và nói thầm: “Có mấy tên do thám, nói chung là bọn ném đá giấu tay, hỏi han về mày. Mày coi chừng đấy, hình như hôm nay họ sẽ bắt mày. Mày là đứa trộm cắp à?” – “Không, tôi nói, tôi không phải và chưa bao giờ là đứa trộm cắp, nếu không phải vì tình yêu đối với một người phụ nữ”. – “Tòa án không buộc tội tình yêu phụ nữ. Không đến mức độ hình sự. Mày đừng đến đây nữa. Hãy đề phòng”. Tớ đã quyết định rồi – không, tớ sẽ không ngồi trong tù. Tớ cần có tự do, để không mất cô ta, cái người phụ nữ này. Phải chuồn thôi, xóa sạch mọi dấu vết của mình.
Ngay hôm đó tớ đi Syzran, để giấu mình, nhưng sang đến ngày thứ ba người ta đã bắt tớ, như một thằng ăn cắp mới tập tọng vào nghề. Người ta đưa đến xét xử trên chiếc tàu thủy ở Samara. Hai người áp giải tớ. Người ta đưa tớ ngang qua Simbirsk. Tớ nhìn qua ô cửa sổ con, và từ trên sông có thể nhìn thấy khu vườn và ngôi nhà nơi cô ấy đang ở. Tớ bảo mấy người áp giải: “Cho tôi lên căng tin trên tầng ba, đã hai ngày nay tôi chưa ăn gì”. Thế là tất nhiên họ đưa lên. Tớ nói nhỏ với cô bán căng tin cho một cốc rượu vốt ka. Cô ấy rót cho tớ. Tớ uống hết một hơi, sau đó đập vỡ cốc trong chính cái bàn tay này rồi chà xát các mảnh vỡ lên khắp mặt, cào cấu. Cứ như rửa mặt bằng những mảnh thủy tinh đẫm máu. Do buồn quá không chịu nổi. Máu chảy bê bết khắp quầy căng tin. Từ đó các vết sẹo nằm lại trên cái mặt mo, trang điểm thêm cho diện mạo.
- Nào, sau đó thế nào? – tôi hỏi.
Anh chàng lanh lợi nhìn tôi, ngáp dài và trả lời:
- Chắc cậu không biết được. Sau đó – món canh củ cải đỏ tởm lợm. Cho tớ một bao “Salve”, nếu không tớ sẽ cắt gân cổ cậu bây giờ - tớ có một ngón đòn hiểm – cậu sẽ không kịp trở tay và sẽ không thoát nổi đâu. Tớ không doạ cậu đâu, tên tội phạm thiếu kinh nghiệm ạ. Và cậu sẽ chảy nước mủi ngay bây giờ.
Tôi đưa cho hắn một bao thuốc “Salve”
- Thế là hết! – hắn nói, đứng dậy và chậm rãi bước dọc chiến hào. – Và nếu cậu nói lại cho tên du côn biết ngay bây giờ, hoặc sau ba mươi năm nữa - tớ sẽ giết cậu không thương tiếc. Chắc cậu biết mấy câu thơ: “Ôi, tình yêu, một giấc mộng say mê”.
Tôi không thể hiểu được sự nổi giận bất ngờ này và tôi nhìn theo sau lưng hắn.
Trong màn sương ban mai từ phía Kiev vang đến tiếng rít khủng khiếp của quả đạn pháo. Tôi có cảm tưởng như quả đạn lao thẳng đến chỗ chúng tôi. Và tôi đã không nhầm.
Quả đạn rơi xuống bờ chiến hào, một tiếng nổ dữ dội, tưởng chừng như cả bầu không khí chung quanh rạn nứt, như quả cầu gang rỗng. Các mảnh đạn rít lên như hàng đàn chim én. Anh chàng lanh lợi ngạc nhiên quay lui, úp mặt vào vách chiến hào, khạc ra cùng với máu một lời chửi rủa thô tục cuối cùng và ngã sóng soài xuống vũng bùn nhão lẫn với tuyết. Trên mặt tuyết bắt đầu tràn ra những vệt máu đỏ.
Quả đạn pháo thứ hai rơi cạnh “hang cáo”. Từ dưới hầm cố thủ “ngài trăm quân” lao lên. Quả đạn thứ ba lại rơi trên vách chiến hào.
- Quân ta! – “ngài trăm quân” hét lên bằng cái giọng nức nở và giơ nắm đấm về phía Kiev. – Quân ta bắn! Lũ ngốc! Đồ vô lại! Chúng mày bắn ai thể? Bắn vào quân mình, thật phí công!
“Ngài trăm quân” quay về phía chúng tôi:
- Lui về Piorka. Nhanh lên! Đừng hoang mang! Mẹ kiếp chính uỷ của các cậu.
Vừa chạy, vừa nằm xuống mỗi khi có tiếng đạn rít, chúng tôi lao xuống Piorka. Những người chạy đầu tiên tất nhiên là những “thanh niên đầu bò đầu bướu”.
Hóa ra là pháo binh của tư lệnh nghĩ là các chiến hào của chúng tôi đã bị quân Petliura chiếm giữ, và họ tập trung hỏa lực bắn vào đó.
Ra khỏi chiến hào “ngài trăm quân” bước qua anh chàng lanh lợi và không quay mặt lại nói với tôi:
- Anh hãy cầm lấy các giấy tờ tùy thân của anh ta để phòng xa. Biết đâu sẽ tìm thấy thân nhân anh ta. Dù sao vẫn là một con người, đâu phải con chó.
Anh thanh niên lanh lợi nằm sấp. Tôi lật anh nằm ngữa ra. Người anh vẫn còn ấm và mặc dù gầy còm anh vẫn nặng. Mảnh đạn cắm vào cổ anh. Đôi môi phụ nữ màu xanh xăm trên bàn tay gập lại có hình chiếc nơ đã loang lỗ máu.
Tôi cởi cúc chiếc áo quân phục xanh kiểu lính Áo trên người anh và lấy trong túi áo sơ mi tấm chứng minh thư nhàu nát, có lẽ là chứng minh thư giả, và một chiếc phong bì có ghi địa chỉ: “Người nhận: Elizaveta Tenisheva, Simbirsk, phố Sadovaia, 13”.
Các đơn vị lính của tư lệnh tan tác và còn lại ít ỏi bắt đầu kéo về quảng trường ngổn ngang rơm mục giữa Priorka.
Dân chúng Priorka đổ ra phố và phẫn nộ lên án sự tháo lui của quân Serdiuk.
Nhưng, mặc dù vậy, các đội kỵ binh Đức vẫn bình thản diễu hành quanh thành phố. Viên tư lệnh hoặc Petliura – những tên Đức cứ mặc kệ tất. Trước hết là cần giữ trật tự.
Trên quảng trường Priorka theo lệnh của “ngài trăm quân” chúng tôi chất những khẩu súng trường và đạn dược thành đống. Bọn Đức ngay lập tức đến bên cạnh đống vũ khí này và bắt đầu thản nhiên canh phòng. Chúng thậm chí chẳng thèm nhìn chúng tôi.
- Còn bây giờ - ai về nhà nấy! – “ngài trăm quân” nói, tháo và ném những quân hàm sọc xanh sọc vàng xuống mặt đường. – Tùy nghi di tản. Tùy khả năng. Trong thành phố đang hỗn loạn. Trên những con phố này tràn ngập binh lính của Petliura, trên những phố bên cạnh quân Đức đang rút lui. Bởi vậy khi vượt qua một ngã tư, đầu tiên phải nhìn sang trái, rồi sau đó nhìn sang phải.
Tôi muốn chào ông.
Ông nhăn nhở cười sau câu đùa không hay lắm của mình, vẫy bàn tay thường dân của mình và vội vã bước đi không ngoảnh lại.
Một số lính Serdiuk cũng cởi áo khoác quân phục ngay trên quảng trường, bán áo cho dân thành phố Priorka lấy ít tiền hoặc tặng cho họ để làm kỷ niệm rồi ra về với chiếc áo sơ mi không đính cầu vai.
Tôi cảm thấy lạnh, và tôi không cởi áo khoác, chỉ gỡ các cầu vai. Bông vải từ các lỗ thủng của các cầu vai bị đứt bay ra, và chỉ mỗi dấu hiệu này cũng đủ để dễ dàng đoán ra tôi là ai.
Tôi đến bệnh viện Kirillovsky, nơi từ ngày xa xưa tôi đã đến đây cùng với cha và họa sĩ Vrubel. Thời đó tất cả những khu vực gần bệnh viện, những mương xói sâu mọc đầy cây sơn trà, và những cây du sần sùi đối với tôi có vẻ bí hiểm và đáng sợ. Giờ đây tôi chậm rãi và mệt nhọc leo lên một con đường dốc đầy bụi để đến Lutianovka, và tôi chẳng còn cảm giác về những khu vực này, mà thậm chí cũng không có cảm giác về thời gian. Có lẽ là do mệt mỏi.
Tất nhiên tôi nhận ra rằng thời gian thật tuyệt vời, hầu như là hoang đường, đôi lúc nó giống như một cơn mê sảng hoặc một thủ pháp kỳ bí, nhưng giờ đây tôi không nhìn thấy nó, - một bầu trời u ám treo trên những con đường nhỏ gồ ghề vùng ngoại ô và những túp lều xiêu vẹo, cũng giống như bầu trời của ba mươi năm về trước. Những ý nghĩ xám xịt xuất hiện trong đầu tôi, và tôi miên man suy nghĩ: “Đến khi nào mới kết thúc buổi diễn nghiệp dư ngớ ngẩn này với những tên tư lệnh, những tên đầu lĩnh, Petliura, với việc hò hét những khẩu hiệu khoa trương, với tình trạng bát nháo của các tư tưởng, và với sự bùng nhùng của các khái niệm và sự tàn ác lớn hơn nhiều so với cái nó có thể biện minh được bằng hoàn cảnh thực tế. Đến khi nào sẽ khép màn cái sân khấu mở ra vội vã này, nơi thật đáng tiếc không phải dung dịch extractum, mà là máu nóng thực sự đã chảy.
Tại các ngã tư đường trong thành phố tôi chẳng nhìn sang trái, chẳng ngó sang phải. Tôi cứ mặc kệ cái rạp hát chính trị và quân sự này, và lòng căm giận đã làm tôi mất hết cảm giác về sự nguy hiểm. Tôi đi qua các đội ngũ lính Petliura mặc quân phục với những chiếc cầu vai đã bị rơi ra, và chỉ hai lần tôi bị người ta đấm mạnh báng súng vào lưng.
Mấy đám đông người Ukraine đứng thành hàng thưa thớt trên các vỉa hè hò hét “hoan hô!” lính Petliura, còn đối với tôi thì họ nhìn với vẻ căm ghét cao độ.
Nhưng tôi vẫn cứ đi về nhà, bấm chuông, nghe thấy tiếng trả lời của bà Amalia, tôi cầm tay đấm cửa, ngồi xuống chiếc ghế ở phòng ngoài, và những ý nghĩ vui vẻ nhẹ nhàng quay cuồng trong đầu, mặc dù chiếc áo quân phục bó chặt ở ngực, - mỗi lúc một chặt hơn, tưởng chừng như nó là một sinh thể và nó muốn làm cho tôi nghẹt thở. Sau đó tôi hiểu ra rằng đó không phải là chiếc áo quân phục, mà là mấy ngón tay dài của chàng thanh niên lanh lợi đang bóp vào yết hầu tôi vì mấy điếu thuốc Odessa hiệu “Salve”. Và cùng với anh thanh niên lanh lợi, tham gia vào việc làm cho tôi nghẹt thở còn có đôi môi phụ nữ màu xanh co lại thành chiếc nơ trên bàn tay anh ta. Tôi rên rỉ và quên hết mọi thứ.
Lúc còn trẻ tôi ít khi bị những cơn choáng thoảng qua như thế. Chúng xảy ra có lẽ do bị mệt mỏi.











Trackbacks (0) | 










